Số 16 – AFTA và những ảnh hưởng với kinh tế các nước ASEAN

AFTA và những ảnh hưởng đối với kinh tế các nước ASEAN

Tác giả: Rosalinda V. Tirona.

Tôi được yêu cầu viết tài liệu về chủ đề “AFTA và những ảnh hưởng đối với Việt Nam”. Vì tôi không phải là một chuyên gia nghiên cứu về kinh tế Việt Nam, nên tôi xin giới hạn báo cáo của mình vào tính chất của AFTA, vào việc Philippines đã cơ bản chuẩn bị như thế nào để đối phó với những thử thách và cơ hội mới. Tôi hy vọng rằng bản báo cáo này sẽ có ích cho việc so sánh và từ đó hai nước chúng ta có thể học hỏi những kinh nghiệm của nhau. Điều này có thể sẽ rất hữu ích vì Việt Nam và Philippines có một số điểm tương đồng.

AFTA là gì? AFTA trong bối cảnh tự do hóa mậu dịch trên toàn cầu?

AFTA đại diện cho sự cố gắng của ASEAN trong việc biến khu vực thành một trung tâm thương mại và đầu tư lớn của thế giới trong vòng 15 năm tới. Hội đồng AFTA gồm mỗi nước thành viên một đại diện và Tổng thư ký ASEAN, có nhiệm vụ giám sát, điều phối và xem xét việc thực hiện những thỏa thuận và giúp đỡ các bộ trưởng kinh tế ASEAN trong tất cả các vấn đề có liên quan.

Mục tiêu của AFTA là tự do hóa thương mại trong các nước ASEAN thông qua việc giảm đến mức tối thiểu các biểu thuế trong khu vực và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực và khuyến khích các ngành kinh tế ASEAN có một định hướng rộng hơn và mang tính thị trường khu vực hơn cho các nền kinh tế trong lĩnh vực sản xuất và thị trường.

Chương trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT) là một khâu quan trọng trong việc thực hiện những mục tiêu của AFTA. Nó đưa ra một biểu từng bước cắt giảm thuế và xóa bỏ hàng rào phi thuế quan đối với tất cả các loại hàng hóa, trừ những sản phẩm nông nghiệp sơ đẳng. Biểu thuế phải được giảm xuống còn 0 – 5% trong vòng 15 năm kể từ 1/1/1993. Những mức thuế trên 20% sẽ phải giảm xuống còn ít nhất là 20% trong vòng 8 năm.

Chương trình CEPT bao gồm tất cả các loại hàng hóa chế tạo kể cả các vật liệu cơ bản và các sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến. Một khi mức thuế của một loại hàng hóa nào đó được giảm xuống 20% hay thấp hơn, thì thành viên của ASEAN có thể nhận được mức giảm thuế thấp hơn nữa từ các nước ASEAN khác.

Trong chương trình CEPT có 2 loại loại trừ: danh mục loại trừ hoàn toàn và danh mục loại trừ tạm thời. Danh mục loại trừ hoàn toàn bao gồm các loại hàng hóa không thể đưa vào trong chương trình CEPT. Nó bao gồm các loại sản phẩm nông nghiệp thô hay chưa qua chế biến và các loại hàng hóa tương tự đã được chế biến sơ qua. Danh mục này còn bao gồm các loại hàng hóa có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, bảo vệ cuộc sống và sức khỏe con người, động thực vật, và vật phẩm có giá trị lịch sử, nghệ thuật và khảo cổ học.

Danh mục loại trừ tạm thời bao gồm những mặt hàng nhạy cảm mà một thành viên ASEAN cho rằng chưa đủ điều kiện cho vào chương trình. Danh mục hàng hóa loại trừ tạm thời sẽ được xem xét lại vào năm 2000 để có thể đưa ra quyết định cuối cùng cho danh sách loại trừ.

Theo nguyên tắc “6-X” (6 thành viên trừ 1) (nay là 7 – 1) một thành viên của ASEAN có thể loại bỏ bất kỳ sản phẩm nào trong danh mục CEPT, khi cảm thấy sản phẩm đó chưa đủ điều kiện để được tính đến trong CEPT.

Thành viên đó cũng có thể hoãn lại các chương trình ưu đãi thuế cho các thành viên khác, nếu như các chương trình ưu đãi thuế này gây ra những tổn thương nghiêm trọng trong việc dự trữ tiền tệ. Một thành viên có thể áp đặt chế độ hạn ngạch hay thậm chí cả những hạn chế phi thuế quan như giấy phép, các biện pháp hành chính và những yêu cầu hạn chế nhập khẩu theo những điều khoản của GATT.

Xúc tiến việc hình thành AFTA

Tại hội nghị các Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM) lần thứ 26 họp tại Chiangmai vào tháng 9/1994, ASEAN đã quyết định xúc tiến việc thành lập AFTA trong vòng 5 năm, từ 1/1/2003, thay cho hạn cuối cùng trước đây quy định là năm 2008. Mục tiêu này sẽ giúp cho ASEAN tiến nhanh hơn trong các thỏa thuận thương mại tự do đã được phác thảo trong GATT và APEC. Để thực hiện mục tiêu này, một số các biện pháp thúc đẩy đã được thông qua, bao gồm :

1. Thỏa thuận chuyển các mặt hàng trong “danh mục loại trừ tạm thời” của chương trình CEPT – AFTA sang “danh mục cắt giảm” trong vòng 5 năm kể từ 1/1/1995, cứ mỗi năm chuyển sang 20%.

2. Thỏa thuận thành lập một bộ phận AFTA

trong ban thư ký ASEAN để giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên..

3. Thỏa thuận về việc đưa các loại sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến vào trong chương trình CEPT.

Phù hợp với những thỏa thuận đạt được trong vòng đàm phán Uruguay, hội nghị AEM tại Chiangmai cũng quyết định:

1. Xây dựng một hiệp định khung về hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ.

2. Mở rộng hợp tác trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt trong những lợi ích công cộng và năng lượng.

3. Xây dựng một hiệp định khung của ASEAN về sở hữu trí tuệ.

Chính sách hạn chế số lượng và các loại hàng rào phi thuế quan khác.

Ngoài việc cắt giảm thuế, các thành viên ASEAN còn có mục đích loại bỏ các chính sách hạn chế số lượng như: quota đối với tất cả các loại hàng hóa trong chương trình CEPT. Các nước thành viên cũng có ý định bãi bỏ tất cả các loại hàng rào phi thuế quan khác (NTBs) trong vòng 5 năm mà theo như một nghiên cứu của dự án Đầu tư tư nhân và các cơ hội thương mại (PITO) thì đó là vật cản thương mại lớn nhất ở ASEAN. NTBs theo nghiên cứu của PITO thì bao gồm hỗ trợ tín dụng tài trợ nghiên cứu và phát triển, khấu hao tăng dần và các chính sách thuế ưu đãi đã tạo ra những rào chắn xâm nhập thị trường gián tiếp thông qua những ảnh hưởng của chúng tới mức giá. Các loại NTBs khác bao gồm quota, các loại quy định về giấy phép, các tập quán buôn bán của Nhà nước, những yêu cầu về tiền đặt cọc trước, những ảnh hưởng của môi trường và yêu cầu kỹ thuật.

Các loại NTBs đặc biệt được nhắc tới trong bản nghiên cứu bao gồm : các vấn đề có liên quan tới hải quan ở Indonesia, Thái Lan và Malaisia, các thủ tục hành chính cồng kềnh ở Indonesia và Malaisia, các tiêu chuẩn về sức khỏe, vệ sinh và an toàn ở Singapore các quy định kiểm soát ngoại hối ở Philippines.

Những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với các nước ASEAN

Một nghiên cứu do nhóm chuyên gia được ủy ban thường trực ASEAN bổ nhiệm tiến hành đã chỉ ra rằng thậm chí nếu không có AFTA thì 50% số lượng thuế ưu đãi trong nội bộ ASEAN cũng sẽ làm lợi rất nhiều cho tất cả các thành viên ASEAN. Nhưng dù sao thì mọi thành quả và các ảnh hưởng tích cực sẽ tăng nhiều hơn khi tham gia vào chế độ AFTA-CEPT. Xuất nhập khẩu trong nội bộ ASEAN sẽ tăng rất nhanh và sự tăng trưởng trong buôn bán sẽ được phân phối đồng đều.

Theo như nghiên cứu này thì mức tăng trưởng nhập khẩu trong nội bộ ASEAN sẽ tăng khoảng từ 40% (đối với Malaysia) đến 70% (đối với Thái Lan). Nhập khẩu của Singapore sẽ tăng mạnh bởi vì Singapore đã có mức thuế ban đầu gần như là 0%. Trong khi đó một tỷ lệ đáng kể trong mức tăng trưởng này sẽ là từ việc buôn bán với các nước không thuộc khối ASEAN và một tỷ lệ lớn hơn sẽ xuất phát từ việc buôn bán do AFTA tạo ra.

Tổng số lượng xuất khẩu của ASEAN sẽ tăng khoảng từ 1,5% (đối với Singapore) đến 5% (đối với Thái Lan) và tăng ít hơn đối với các nước thành viên khác, do khu vực tự do hóa mậu dịch tạo ra. Không giống như trường hợp nhập khẩu, mức tăng xuất khẩu sẽ không có hại cho việc xuất khẩu sang các nước khác trên thế giới. Nói cách khác, các thành viên ASEAN sẽ tiếp tục xuất khẩu thêm nhiều sản phẩm sang EC, Mỹ, Nhật và các nước NICs.

Hơn nữa, một khu vực thương mại phát triển sẽ có ảnh hưởng tích cực tới việc phân bổ các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp giữa các nước thành viên ASEAN. Nhưng sẽ không có một nước nào bá chủ khu vực. Bản báo cáo đã chỉ ra những ảnh hưởng có khả năng xảy ra đối với mỗi nước thành viên ASEAN như sau:

Indonesia : Sự tăng trưởng sản xuất toàn diện đáng kể nhất sẽ diễn ra trong các ngành cần nhiều đến sức lao động và tài nguyên như ngành dệt, các sản phẩm gỗ, giấy và các sản phẩm chế tạo khác. Các ngành hàng suy giảm sẽ bao gồm: thực phẩm, các sản phẩm phi kim loại và các phương tiện giao thông.

Malaysia : Các thành tựu công nghiệp phần lớn tập trung vào các ngành cần nhiều sức lao động như may mặc, các sản phẩm gỗ và các ngành sản xuất máy móc cần nhiều vốn. Các ngành hàng suy giảm sẽ bao gồm : thực phẩm, kính và các sản phẩm kính và phi kim loại.

Philippines : Mức tăng sản lượng tập trung chủ yếu ở các loại sản phẩm cần nhiều vốn đầu tư như các sản phẩm chế tạo phi kim loại, các loại máy điện và phi điện. Các sản phẩm gỗ, hóa chất công nghiệp và các mặt hàng chế tạo sẽ có thể giảm đi đôi chút.

Singapore : Sản xuất sẽ tăng trong các ngành công nghiệp nặng như công nghiệp hóa chất, sắt, thép, các phương tiện vận tải. Một vài ngành công nghiệp sử dụng nhiều sức lao động như dệt, may mặc sẽ giảm.

Thái Lan : Quy mô sản xuất sẽ được mở rộng trong các ngành chế biến thực phẩm, sản phẩm da, các sản phẩm kim loại và phi kim loại và các loại máy điện. Các sản phẩm gỗ, máy móc và các sản phẩm công nghiệp cao cấp sẽ giảm. Theo chương trình AFTA, một vài ngành hàng được dự đoán sẽ mang lại lợi nhuận, còn các ngành khác sẽ bị suy giảm. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu ngành và tính hiệu quả của từng ngành trong mỗi quốc gia.

Chúng ta đều quan tâm theo dõi xem những dự đoán trên sẽ diễn ra như thế nào khi có thêm sự tham gia của Việt Nam và thậm chí cả Lào, Campuchia và Myanmar.

Bản nghiên cứu trên còn chỉ ra rằng nếu tự do thương mại trong nội bộ các nước ASEAN gắn liền với việc mở rộng hợp tác trên lĩnh vực công nghiệp và phối hợp trong các chính sách có liên quan đến công nghiệp và thống nhất việc tiêu chuẩn hóa, thì lợi ích của các thành viên ASEAN còn lớn hơn nhiều.

Cuối cùng bản nghiên cứu kết luận rằng AFTA sẽ tăng cường hỗ trợ, giảm bớt các khó khăn về tài chính và cơ sở hạ tầng, củng cố cơ chế hành chính hỗ trợ cho thương mại. Đối với trường hợp của Việt Nam, Việt Nam cũng sẽ có lợi thế kể trên khi Việt Nam sắp xếp điều chỉnh lại các chính sách kinh tế của mình cho phù hợp với các nước thành viên khác và thiết lập một cơ cấu cơ sở hạ tầng cơ bản.

Những thông tin mới về AFTA

Theo tài liệu của Ban thư ký ASEAN, việc tăng cường hợp tác kinh tế và việc thực hiện các sáng kiến mới nhằm làm giảm chi phí sản xuất và giao dịch trong khu vực sẽ làm buôn bán tăng nhanh trong nội bộ cũng như bên ngoài các nước ASEAN. Như vậy sẽ biến khu vực ASEAN không chỉ thành một khu vực hoạt động hấp dẫn mà còn trở thành một thị trường hấp dẫn. Sự hội nhập của Việt Nam sẽ làm tăng thêm vai trò kinh tế này của khu vực. Xuất khẩu các sản phẩm CEPT trong nội bộ ASEAN sẽ tăng 18,68% trong giai đoạn từ 1994-1995, có nghĩa là tăng từ 47,4 tỷ USD lên 56,3 tỷ USD. Xuất khẩu các sản phẩm CEPT và các sản phẩm không thuộc CEPT trong nội bộ ASEAN sẽ tăng lên 19,77%, từ 57,5 tỷ USD lên 68,8 tỷ USD trong cùng khoảng thời gian. Các lĩnh vực sản xuất máy móc các thiết bị cơ khí, các thiết bị điện và âm thanh sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong buôn bán nội bộ ASEAN khoảng 58,2% trong năm 1995. Tỷ lệ buôn bán trong nội bộ ASEAN tính trong toàn bộ kim ngạch buôn bán của ASEAN giảm xuống còn 19,8% trong năm 1995 trước đó là 20,2% trong năm 1994.

Trong năm 1995 và 1996, ASEAN tập trung chủ yếu vào các biện pháp hỗ trợ thương mại và mở rộng khu vực tự do mậu dịch bằng việc Việt Nam tham gia vào hiệp định CEPT. Bước đầu việc hỗ trợ thương mại tập trung vào việc loại bỏ hàng rào phi thuế quan và thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực hải quan chủ yếu tập trung vào 3 vấn đề trọng điểm: lập các danh mục thuế, hệ thống cách định trị giá hải quan và các thủ tục hải quan.

Tổng số các mặt hàng nằm trong Danh sách cắt giảm thuế hiện nay là 45.609 mặt hàng – chiếm khoảng 94% tổng số mặt hàng của ASEAN. Hiện nay các nước ASEAN đang chuẩn bị cho quá trình cắt giảm thuế được bắt đầu từ ngày 1/1/1997 và Danh mục các sản phẩm được nằm trong Danh sách loại trừ tạm thời. Các sản phẩm nông sản chưa qua chế biến (UAPs) chiếm một tỷ lệ lớn – khoảng 68% sẽ được đưa vào chương trình cắt giảm thuế trong giai đoạn bắt đầu từ năm 1999 và kết thúc vào năm 2003.

Một số ít các mặt hàng nông sản nhạy cảm sẽ được đưa vào chương trình CEPT từ ngày 1/1/2010.

AFTA có ý nghĩa gì đối với Philippines

Khu vực mậu dịch tự do ở ASEAN có tác dụng xóa bỏ các trở ngại để mở rộng hơn nữa buôn bán giữa các quốc gia thành viên. Chương trình này bao gồm việc xóa bỏ các mức thuế cao đối với các loại hàng hóa buôn bán, loại bỏ chính sách Hạn chế số lượng nhập khẩu. Đồng thời, mỗi thành viên sẽ có quyền được tự do áp đặt mức thuế cho hàng nhập khẩu từ các nước không thuộc ASEAN.

Một thị trường rộng lớn hơn : Đối với các nhà xuất khẩu và sản xuất tiềm năng thì AFTA ngay lập tức trở thành một thị trường rộng lớn hơn với hơn 420 triệu người tiêu dùng thay thế cho thị trường nội địa nhỏ bé với 65 triệu dân Philippines.

Đầu vào rẻ hơn : Với mức thuế thấp áp dụng cho các sản phẩm của ASEAN, các nhà sản xuất trong nước có thể mua được các nguồn vật liệu rẻ hơn dùng cho đầu vào sản xuất từ các nhà cung cấp trong khu vực ASEAN.

Đầu tư nhiều hơn : Vì thị trường ASEAN rộng hơn và vì nguồn cung cấp nguyên vật liệu cũng rẻ hơn, Philippines sẽ trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Điều này có nghĩa là sẽ có thêm nhiều liên doanh mới, nhiều luồng phân phối mới và nhiều công nghệ mới và tốt hơn.

Tính hiệu quả lớn hơn : AFTA là một bước tiến hướng tới tính hiệu quả toàn cầu bởi vì các nhà sản xuất trong nước sẽ phải đối mặt với những sức ép cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu.

Đối với Việt Nam, Việt Nam cũng sẽ có được những lợi ích kể trên và việc tham gia vào AFTA sẽ thúc đẩy quá trình chuyển đổi Việt Nam sang một cơ chế kinh doanh cởi mở và tự do hơn góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới cùng với các nước ASEAN khác.

AFTA và tự do thương mại ở Philippines

Kế hoạch phát triển trung hạn của Philippines (MTPDP) xác định rõ phương hướng phát triển kinh tế trung hạn của chính phủ Ramos. Chính phủ Ramos cũng chỉ ra rằng mục tiêu phát triển tổng thể là nâng cao chất lượng sống người dân Philippines bằng cách trao quyền lãnh đạo cho nhân dân. Các mục tiêu kinh tế vĩ mô đề ra cho năm 1998 bao gồm: thu nhập tính theo đầu người đạt ít nhất 1000$, mức tăng trưởng GNP và GDP đạt ít nhất là 10%, giảm tỷ lệ đói nghèo xuống còn 30%.

Khi quyết định trao quyền lực cho nhân dân, chính phủ Ramos đã có một cam kết rõ ràng với kinh tế thị trường tự do : “Công cuộc phát triển sẽ được xuất phát từ những khởi đầu kinh tế thị trường của mọi cá nhân, cộng đồng, hộ gia đình, công ty, hợp tác xã hay một đơn vị chính quyền địa phương trong một hệ thống thị trường hoạt động hiệu quả”. Kế hoạch này đề ra 3 chiến lược lớn nhằm cụ thể hóa quyền lực của nhân dân.

1. Phát triển nguồn nhân lực – có nghĩa là trong bối cảnh phát triển chung toàn xã hội, nói lên nhu cầu cho một đội ngũ lao động lành nghề với phẩm chất lao động thực sự và một tầng lớp doanh nghiệp có khả năng nắm bắt nhanh nhạy cơ hội và thúc đẩy công nhân làm việc có năng suất cao hơn.

2. Sức cạnh tranh quốc tế, điều này có nghĩa là khả năng sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ ở cấp quốc tế sẽ buộc Philippines phải loại bỏ các chính sách thương mại và công nghiệp bảo hộ các ngành sản xuất trong nước tới mức khuyến khích sự không có hiệu quả.

3. Phát triển bền vững : Nhà nước thực hiện vai trò của người chăm sóc môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho thế hệ hiện tại mà không phải hy sinh lợi ích của thế hệ sau này.

Công việc quản lý hiện nay là tiếp tục thực hiện chương trình cải cách thương mại được bắt đầu từ thập kỷ 80 đã được Chính phủ Aquino thông qua và xúc tiến. Thực chất, Chính phủ Ramos đang cố gắng đạt được một biểu thuế thấp chung cho phù hợp với các thông số mà Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã đề ra. WTO yêu cầu tất cả các nước thành viên giảm các hàng rào thương mại xuống còn 0-5% vào năm 2004.

Chính phủ cũng đã cắt giảm mức thuế đối với hàng linh kiện thiết bị sản xuất xuống còn 3-10%. Thuế đánh vào hàng may mặc, dệt và nguyên liệu dệt cũng đã được cắt giảm.

Năm 1995 chính phủ đã thực hiện việc sửa đổi lại mức thuế các mặt hàng còn lại trong Bộ luật Thuế và Hải quan. Mức thuế dành cho các nguyên liệu thô không được sản xuất trong nước đã giảm xuống còn 3% vào năm 1999.

Thuế dành cho mặt hàng thành phẩm sản xuất trong nước sẽ vẫn được giữ ở mức hiện nay cho đến năm 1997, và sau đó sẽ giảm xuống còn 10% vào năm 2003 trước khi thông qua mức thuế chung 5% vào năm 2004.

Cố gắng sớm xóa bỏ bảo hộ mậu dịch

Với những lợi ích khả thi mà nền kinh tế mở cửa mang lại, Chính phủ Philippines, sau vài năm áp dụng chính sách bảo hộ, cuối cùng cũng đã thực hiện một chính sách từng bước tự do mậu dịch bắt đầu từ năm 1981. Chương trình này bao gồm 2 phần chính: 1) Giảm và hợp lý hóa sự bảo hộ thuế; 2) Xóa bỏ hạn chế số lượng nhập khẩu.

Để phù hợp với chương trình đó, Chính phủ đã ban hành cắt giảm thuế (TRP) và đặt nền tảng cho kế hoạch tự do nhập khẩu (ILP). Kế hoạch này đã dần loại bỏ mọi hình thức của giấy phép nhập khẩu bắt đầu từ hàng hóa kém nhạy cảm nhất, với mục đích không gây ra sự nhập khẩu tràn lan. Kết thúc vào năm 1985, TRP đã đạt được các thành quả sau: 1) Giảm tỷ lệ thuế tối đa của mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu và mặt hàng tiêu dùng không phân loại từ 100% xuống còn 70%; 2) Nâng mức thuế tối thiểu từ 0-5%; 3) Giảm mức thuế từ 14% xuống còn 10%.

Phát triển dựa trên những thành quả cải cách thương mại

Trong một phạm vi nhất định nào đó thì Chính phủ Aquino đã tiếp tục các cải cách thương mại được thông qua năm 1981. Tuy nhiên các cuộc cải cách đã tập trung nhiều vào vấn đề xóa bỏ hạn chế nhập khẩu và hạn chế số lượng thông qua đánh thuế. Dưới chinh quyền Aquino, kế hoạch tự do thương mại đã được thực hiện trong hai giai đoạn. Trong giai đoạn 1, xóa bỏ kiểm soát nhập khẩu đối với các mặt hàng mà ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều như là đầu vào. Giai đoạn 2 : xóa bỏ kiểm soát nhập khẩu đối với hơn 156 mặt hàng nữa.

Chính quyền Aquino đã tự do hóa được

1488 mặt hàng nhập khẩu và tính từ năm 1981 đã nâng tổng số lên 2487 mặt hàng. Cuối năm 1991, khoảng 4272 mặt hàng của Bảng tiêu chuẩn xếp loại hàng hóa Philippines đã được tự do hóa. Hạn chế số lượng nhập khẩu đối với phần lớn 206 mặt hàng còn lại đã nằm trong kế hoạch xóa bỏ hoặc thay thế bằng thuế. Khoảng 60 mặt hàng còn lại sẽ được liệt vào danh sách những mặt hàng được bảo hộ vì lý do sức khỏe, an toàn và an ninh quốc gia. Những mặt hàng này bao gồm hóa chất dùng cho sản xuất chất nổ, các loại chất độc và các phụ tùng xe cộ thuộc chương trình phát triển xe tải nhỏ.

Dưới chính quyền Aquino mức thuế danh nghĩa gần như không thay đổi, mặc dù cũng có cắt giảm thuế chút ít.

Năm 1989, các nhà hoạch định chính sách của chính phủ đã đưa ra một chương trình cải cách thương mại mới thông qua Lệnh điều hành (EO) số 413. Chương trình này chỉ đưa ra 4 mức thuế :

1) Một mức thuế tối thiểu là 3% cho hàng nguyên liệu thô.

2) 10% cho hàng nguyên liệu thô đã qua chế biến.

3) 20% cho hàng trung gian. 4) 30% cho hàng thành phẩm.

Theo chính sách mới này thì 4026 (khoảng 65%) trong tổng số 6192 biểu thuế sẽ phải điều chỉnh lại và sẽ có nhiều thay đổi trong các ngành hóa chất, máy móc và giao thông vận tải. Mục tiêu cơ bản của chính sách này là cắt giảm tỷ lệ thuế đối với mặt hàng nguyên liệu thô, các mặt hàng trung gian và thành phẩm (riêng đối với mặt hàng thành phẩm sẽ giảm thuế nhiều nhất). Các ngành công nghiệp trước đây phải nhập khẩu đầu vào và ít phải cạnh tranh với hàng thành phẩm nhập khẩu sẽ có lợi nhất trong chương trình cải cách thương mại này. Mặt khác, các ngành công nghiệp trước đây phải cạnh tranh với hàng thành phẩm nhập khẩu và phải phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu đầu vào sẽ bị thiệt thòi nhiều nhất.

Các ngành công nghiệp địa phương nhận thấy rằng cuộc cải cách thương mại rất quyết liệt và sợ sẽ gây xô lệch trong ngành công nghiệp. Vì vậy, Tổng thống Aquino đã ký một lệnh điều hành khác nhằm sửa đổi EO-413. Chương trình sửa dổi (EO470) đưa ra một thời hạn 4 năm các biểu thuế quá độ để các ngành công nghiệp địa phương có đủ thời gian điều chỉnh lại và đổi mới. Cuối khoảng thời gian điều chỉnh đó, mức thuế danh nghĩa trung bình sẽ giảm xuống còn 20% so với trước đây là 28%. Năm 1995, khi chương trình được hoàn tất thì cơ cấu thuế được giảm xuống còn 4 mức thuế: 3%; 10%; 20% và 30%.

Mặc dù phần lớn các mức thuế đã được cắt giảm nhưng thuế đánh vào các mặt hàng như thịt, cá và các sản phẩm về cá, hàng may mặc, dệt, thủy tinh, dụng cụ gia đình, các thiết bị truyền thống và vô tuyến cùng các loại hàng tiêu dùng khác vẫn được giữ ở mức 40 đến 50%. Khoảng 200 loại sản phẩm được coi là sản phẩm chiến lược sẽ vẫn bị tính 50% thuế. Trong số đó phải kể đến những mặt hàng như hoa tươi, các loại hoa quả tươi và khô sẵn có ở trong nước, lúa gạo, nước hoa quả, rượu vang và rượu mạnh, thuốc lá, mỹ phẩm, túi xách và va li, các loại phụ liệu may mặc bằng da, da lông thú, gỗ ép và gỗ dán, đồ gốm sứ trang trí, mật và các loại kẹo (kể cả các loại sô-cô-la thanh). Thêm vào đó một số mặt hàng hiện đang được xếp vào hàng hạn chế số lượng nhập khẩu sẽ bị đánh thuế cao khoảng 75 hoặc 100% khi bỏ hạn chế về số lượng.

Nhìn chung, cơ cấu thuế tác động tới khoảng 94% trong số 5561 mặt hàng bị đánh thuế.

Bản sửa đổi mức thuế áp dụng cho các mặt hàng còn lại trong Bộ luật Thuế và Hải quan, như đã sửa đổi, đang chờ hoàn tất vào đầu năm 1997.

Chương trình cắt giảm thuế sẽ làm giảm đi một phần đáng kể doanh thu của chính phủ. Nhưng dù sao, về lâu dài chương trình này sẽ nâng cao tính cạnh tranh và khả năng xuất khẩu của các ngành công nghiệp nội địa.

Đẩy mạnh xuất khẩu

Để thúc đẩy hơn nữa sự tăng trưởng, Chính phủ Ramos đã ban hành nhiều điều luật và chính sách nhằm khuyến khích ngành công nghiệp xuất khẩu và cạnh tranh trên thế giới. Các điều luật và chính sách này tập trung vào vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng và các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc để thành lập mạng lưới nối liền đất nước với các thị trường xuất khẩu có tiềm năng.

Trong khi đó, Chính phủ cũng ra chỉ thị cho Bộ Thương mại và Công nghiệp đẩy mạnh việc đa dạng hóa sản phẩm và thị trường để tăng nhiều số lượng xuất khẩu các mặt hàng hiện có.

Các biện pháp này đều nhằm mục đích giúp đất nước đạt được mức xuất khẩu 50 tỷ USD vào năm 2000 và một cán cân thương mại thặng dư trong vòng 10 năm. Kế hoạch này nhằm đạt được mục tiêu duy trì tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm ít nhất cao hơn 5% so với tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu. Điều này cũng có ý nghĩa là mức tăng trưởng xuất khẩu sẽ đạt mức 25% vào năm 2000.

Đặc biệt Bộ Thương mại và Công nghiệp đang đưa ra một lô mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng đã được sản xuất trong nước nhưng chưa được phổ biến rộng rãi trên thị trường thế giới. Bộ đã thành công khi đưa lô hàng đầu tiên gồm 14 mặt hàng xâm nhập vào thị trường xuất khẩu trong 3 năm trước đây. Trong số các mặt hàng phải kể tới đồ điện tử, may mặc, giầy dép, vật liệu xây dựng, thực phẩm chế biến, đồ gốm, đồ gỗ, đồ kim hoàn, thủy sản và hoa tươi.

Ngoài những mặt hàng xuất khẩu truyền thống (như dừa và các sản phẩm từ dừa) các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu còn bao gồm chuối tiêu, xoài, tôm hùm, tảo biển, động cơ phát điện dùng cho ôtô và các phần mềm máy tính.

Đồng và cà phê cũng được coi là những mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng. Các mặt hàng hiện đang được xuất khẩu dưới dạng thô sẽ được chế biến và tính thêm thuế giá trị gia tăng.

Bộ Thương mại và Công nghiệp cũng muốn thúc đẩy hơn nữa việc xuất khẩu các sản phẩm chế tạo hiện đang chiếm 85% tổng số mặt hàng xuất khẩu. Đồng thời, Bộ đã bắt đầu tiến hành khai thác những thị trường không truyền thống như ấn Độ, Đông âu, Nam Phi và Trung Đông. Bộ cũng đang tập trung cố gắng mở rộng tối đa tiềm năng của thị trường ASEAN rộng lớn, với hơn 420 triệu dân.

Xuất khẩu của Philippines tới các nước ASEAN đã được củng cố mạnh mẽ đạt 79% trong năm 1994. Quyết định đẩy mạnh việc thực hiện khu vực tự do mậu dịch của các nước thành viên ASEAN đã góp phần đẩy mạnh xuất khẩu thêm một bước nữa.

Các nhà xuất khẩu đều lạc quan vì nhu cầu xuất khẩu sẽ tiếp tục tăng. Các sản phẩm của họ được xuất sang 174 quốc gia, 93% trong số đó cho thấy cán cân thương mại thặng dư. Các thị trường xuất khẩu hàng đầu của Philippines như thị trường Mỹ, đã tăng nhu cầu đối với hàng hóa do Philippines sản xuất.

Một môi trường đầu tư thông thoáng

Chính phủ Aquino và Quốc hội đã tạo ra một bước chuyển lớn trong chính sách bảo hộ hàng hóa của đất nước năm 1990-1991 bằng cách lập ra một bộ luật đầu tư nước ngoài tự do. Chính phủ nhận thấy rằng để cứu vớt nền kinh tế và vượt qua sự nghèo đói trong vòng 5-10 năm tới, đầu tư là hết sức cần thiết. Chính phủ cũng cho rằng để thu hút các nhà đầu tư thì phải có được một môi trường đầu tư phù hợp với các nước ASEAN khác. Chính quyền đã ban hành Điều luật Cộng hòa số 7042 hay còn gọi là Luật đầu tư nước ngoài năm 1991, đã đơn giản hóa những thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh ở Philippines bằng cách yêu cầu các nhà đầu tư mới chỉ cần đăng ký với Sở giao dịch và chứng khoán (SEC), trừ khi họ đang tìm kiếm sự khuyến khích đầu tư của Hội đồng đầu tư.

Quan trọng hơn, Điều luật này đã cho phép đầu tư vốn nước ngoài vào doanh nghiệp nội địa hay sản xuất hàng xuất khẩu bao lâu tùy ý, trừ trường hợp dự án đầu tư đó bị liệt vào danh sách cấm. Danh sách này gồm 3 phần: “A”, “B”, “C”. Phần A của bảng danh sách ngăn cấm đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định do những quy định của hiến pháp. Vốn nước ngoài không được phép đầu tư vào các lĩnh vực như: thông tin đại chúng, hợp tác xã, khai thác khoáng sản qui mô nhỏ tận dụng tài nguyên biển và buôn bán, sản xuất lúa gạo và ngô trừ khi được phép của ủy ban Lương thực Quốc gia. Phần B bao gồm các hoạt động doanh nghiệp và công nghiệp có liên quan tới an ninh quốc phòng và ảnh hưởng tới sức khỏe và đạo đức cộng đồng. Phần C bao gồm các lĩnh vực mà các nhà máy trong nước đã sản xuất đủ. Hiện tại, bảng danh sách này vẫn còn trống.

Năm 1995, Ngân hàng Trung ương Philippines ban hành một chương trình nhằm tự do hóa các quy định thị trường ngoại hối để nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu thu hút vốn tư nhân vào hệ thống chính thức, hoàn thiện tự do hóa trong luật đầu tư nước ngoài và thực hiện một tỷ giá hối đoái theo hướng thị trường. Chương trình này đã xóa bỏ thủ tục nộp lại các hóa đơn đổi tiền, cho phép các nhà xuất khẩu giữ lại những khoản tiền đôla thu được và sử dụng chúng với bất kỳ mục đích gì, nới lỏng các quy định của ngân hàng về các khoản gửi ngoại tệ và về việc chuyển lợi nhuận và cổ tức mang ra khỏi đất nước vì mục đích du lịch hay mục đích khác, và cho phép tự do mua bán và sử dụng ngoại tệ.

Sau khi tự do hóa các giao dịch trong tài khoản, các hạn chế về vốn cũng được nới lỏng. Các hạn chế trước đây về luồng ra vào của vốn nước ngoài đã được hủy bỏ, trong khi đó hạn mức vốn đầu tư của các công dân Philippines ở nước ngoài được tăng lên. Các quy định về cho vay quốc tế của các công ty tư nhân trong nước và của nhân dân đã được đổi mới, mặc dù vẫn còn phải được các tổ chức tiền tệ thông qua trước hết.

Chương trình này đã đem lại những kết quả hết sức khả quan và nhanh chóng. Năm 1991, dự trữ ngoại tệ tăng 3 tỷ USD đạt mức 4,5 tỷ USD. Luồng đầu tư tăng mạnh và thêm nhiều luồng chuyển tiền vào hệ thống ngân hàng chính thống. Số lượng giao dịch hàng ngày trên thị trường tiền tệ tăng lên 10-20 tỷ, so với 10 năm trước chỉ có khoảng 1 triệu đôla/ngày.

Luật BOT (Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao)

Bộ luật gốc về Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao được hình thành vào tháng 7/1990. Bộ luật này quy định các nhà thầu tư nhân có thể đảm nhận một công trình xây dựng bao gồm vấn đề tài chính, vận hành và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng. Nhà thầu này sẽ điều hành công trình trong một khoảng thời gian nhất định, trong khoảng thời gian đó nhà thầu được phép thu đúng mức các loại phí để bù đắp hoạt động và bảo dưỡng, đầu tư vào công trình với mức thu hồi thỏa đáng. Chính quyền quốc gia và địa phương sẽ đảm nhận trách nhiệm quản lý thiết bị cơ sở hạ tầng khi kết thúc thời hạn quy định và thời hạn đó không vượt qua 50 năm.

Luật BOT sau đó đã được sửa để nới rộng các thỏa thuận về thầu khoán của khu vực tư nhân trong các dự án về cơ sở hạ tầng. Bộ luật BOT mới sửa đổi cho phép ít nhất 9 thể loại thuộc BOT như: Xây dựng – Chuyển giao (BT); Xây dựng – Cho thuê – Chuyển giao (BLT); Xây dựng – Sở hữu – Hoạt động (BOO); Phục hồi – Hoạt động – Chuyển giao (ROT)…

Luật BOT mới còn đảm bảo tỷ lệ lợi nhuận thu được theo giá thị trường – những tỷ lệ phản ánh chi phí vốn đầu tư của Philippines và các nước khác trên thế giới bỏ ra, sẽ được ưu tiên tính đến thông qua quá trình đấu thầu. Bộ luật mới còn cho phép tự đề nghị đề xuất.

Tính cho đến tháng 5/1995, có ít nhất 36 dự án BOT được xây dựng đem lại hơn 6 tỷ USD. Con số này chiếm khoảng hơn 50% tổng số vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong giai đoạn 1994-1998. Nhiều dự án trong số đó là các dự án về cơ sở điện lực.

Tăng thêm thời gian thuê đất

Điều luật thuê dành cho các nhà đầu tư năm 1993 đã tăng thời hạn được phép thuê đất lên 50 năm, thay cho trước đây là 25 năm. Còn đối với các nhà đầu tư xây dựng các cơ sở công nghiệp, nhà máy, các công xưởng lắp ráp và chế tạo, các nhà máy công – nông nghiệp sẽ được hưởng thời hạn là 75 năm. Tất cả các nhà đầu tư tham gia vào việc sử dụng đất phát triển du lịch (với số vốn đầu tư ít nhất là 5 triệu USD) hay sử dụng đất cho mục đích thương mại, công nghiệp, hay các ngành sản xuất ưu tiên phát triển đều có lợi nhờ bộ luật này.

Kế hoạch ưu tiên đầu tư và các biện pháp khuyến khích đầu tư

Đầu tư vào một số lĩnh vực được nêu trong kế hoạch ưu tiên đầu tư sẽ được khuyến khích. Các lĩnh vực ưu tiên là đầu tư vào các sản phẩm xuất khẩu không truyền thống, các sản phẩm nông nghiệp chăn nuôi gia súc, gia cầm, sản phẩm bò sữa. Các ngành công nghiệp cơ bản như sắt thép, xi măng, khai thác mỏ, hóa chất, chế tạo da và lọc dầu nếu đặt ở ngoài khu vực thủ đô (thủ đô Manila và vùng ngoại thành) hay trong các khu quy hoạch nằm trong khu vực thủ đô.

Các ngành công nghiệp cơ khí, cơ sở hạ tầng và dịch vụ, du lịch, nhà cửa, sản xuất hàng tiêu dùng, hiện đại hóa và phục hồi lại một số ngành công nghiệp bảo tồn và bảo vệ môi trường sinh thái, các hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học và kỹ thuật, một số dự án nằm trong khu vực tự trị Hồi giáo Mindanao, một bộ phận của phát triển khu vực tăng trưởng Đông á Brunei – Indonexia – Malayxia – Philippines (BIMP-EAGA).

Các biện pháp khuyến khích mà ủy ban đầu tư đưa ra bao gồm: miễn thuế thu nhập từ 4-6 năm, cho nợ thuế đối với các thiết bị vật tư nhập khẩu, miễn thuế 10 năm các loại vật nuôi và giống nhập khẩu, miễn thuế 10 năm cho các loại vật nuôi trong nước và giống nhập khẩu, đơn giản hóa các thủ tục hải quan dành cho việc nhập các thiết bị phụ tùng, nguyên liệu thô, các sản phẩm được chế tạo để cung cấp và xuất khẩu, không hạn chế việc sử dụng các thiết bị ký gửi, thuê các nhân công nước ngoài làm giám sát, kỹ thuật viên và tư vấn trong 5 năm, áp dụng chế độ cho nợ thuế đối với các khoản thuế đánh vào nguyên vật liệu thô, các thiết bị, bán thành phẩm dùng cho sản xuất xuất khẩu, được quyền lưu giữ hàng hóa trong kho để sản xuất và kinh doanh miễn phí nhập cảng và thuế xuất khẩu, các loại thuế và phí (đặc biệt đối với hàng xuất khẩu không truyền thống) cho các dự án mới.

Đối với các dự án nằm trong khu vực kém phát triển, sẽ được giảm 100% thuế thu nhập cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng chính và thiết yếu trong suốt quá trình hoạt động, thêm vào đó sẽ được giảm 100% thuế trả lương trực tiếp cho lao động lành nghề và không lành nghề. Ngoài ra, những doanh nghiệp đầu tư vào khu vực kém phát triển muộn hơn được phép là doanh nghiệp 100% sở hữu nước ngoài.

Tình hình hiện tại của nền kinh tế Philippines

Sau những năm đầu thập kỷ tăng trưởng gần như từ con số 0, Philippines không chỉ đang trên con đường khôi phục, mà còn đang trên bờ của sự bùng nổ. Ba năm qua, sự phát triển lớn mạnh đã làm biến đổi cái mà trước đây được coi là rọ kín thành một địa điểm đầu tư hấp dẫn trong khu vực châu A’.

Số liệu từ ủy ban Thống kê Quốc gia (NSCB) đã chỉ ra nhịp độ tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế. Trong quý 1 năm 1995, trong toàn bộ nền kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 4,7% so với 3,63% cùng kỳ năm ngoái. Người ta dự tính tốc độ tăng trưởng trong năm nay sẽ còn tăng nhiều. Năm năm sau mức tăng trưởng trung bình được ước tính vào khoảng 7-8%.

Nhưng sự tăng trưởng này là do cả đầu tư trong nước và nước ngoài tạo nên. Năm 1994, ủy ban đầu tư (BOI) thông báo các dự án đăng ký tăng 400%, trị giá 450 tỷ pê-sô (khoảng 18,49 tỷ USD), so với mức 3,76 tỷ năm 1993. Châu âu, Mỹ, Nhật, Hồng Kông, Đài Loan và Singapore là những nước đầu tư lớn nhất.

Xuất khẩu của Philippines cũng tăng. Năm 1994, xuất khẩu tăng 19,5%, nhập khẩu đạt 17,9%. Trong quý đầu năm 1995 xuất khẩu tăng 30,35% so với cùng kỳ năm, nói cách khác tăng từ 3,9 tỷ USD năm 1994 lên 5,09 tỷ USD năm 1995. Trong khi đó nhập khẩu cũng tăng mạnh, phần lớn trong số đó là các tư liệu sản xuất như máy móc của nhà máy. Mỹ và Nhật vẫn là những bạn hàng buôn bán lớn nhất với hơn 40% tổng số hàng được xuất khẩu thẳng tới các nước này. Các thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu Philippines nằm ở các nước công nghiệp mới như Hongkong, Đài Loan, Singapore và Hàn Quốc.

Thị trường chứng khoán Philippines trở nên ngày càng hấp dẫn hơn đối với nguồn tài chính quốc tế. Đầu tư vào cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài tăng 45% từ 1,1 tỷ USD lên 1,6 tỷ USD trong vòng 12 tháng kể từ tháng 7/1994. Từ 1992 đã có những lời chào giá công khai đầu tiên trị giá khoảng 1,75 tỷ USD và hiện nay có 1,3 tỷ đang được thảo luận để mua bán. Thị trường chứng khoán Philippines là một trong những thị trường thực hiện nhiều giao dịch chứng khoán nhất trên thế giới trong năm 1994 và 1995.

Lần đầu tiên trong 20 năm, Chính phủ Philippines đã đạt được thặng dư trong ngân sách. Chính phủ đã thu được 214,1 tỷ pê-sô, làm cho ngân sách nhà nước thặng dư 6,7 tỷ pê-sô. Sự tăng giảm thu chi đó đã làm giảm thâm hụt trầm trọng trong khu vực công cộng.

Trong công cuộc phục hồi kinh tế phải kể đến vai trò lãnh đạo sáng suốt của tổng thống Fidel V.Ramos. ông không chỉ dựa vào nhiều cuộc cải cách do cựu tổng thống Corozon Aquino khởi xướng trong nhiệm kỳ 6 năm của bà, mà ông còn đem lại sự ổn định chính trị và tăng niềm tin của các nhà đầu tư. ông đã đưa đất nước trở lại con đường phát triển bằng cách tập trung vào các biện pháp phát triển đầu tư và nâng cao tính hiệu quả.

Trong 3 năm đầu với cương vị là tổng thống, ông đã xóa bỏ tận gốc rễ sự trì trệ lâu đời của nền kinh tế Philippines trong suốt 30 năm. Hơn bất cứ các vị tổng thống trước, ông đã làm giảm bớt ảnh hưởng của chính sách bảo hộ và những can thiệp của nhà nước vào kinh doanh bằng việc triển khai những bước chuyển mạnh dạn theo hướng xóa bỏ các quy tắc điều lệ, tự do hóa và tư nhân hóa. Thật vậy, tất cả những nhân tố cần thiết cho một sự phồn vinh lâu dài đã được tạo lập.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Philippines (PCCI) đã bày tỏ lòng tin của mình vào sự cất cánh của nền kinh tế đất nước. Phòng Thương mại thường xuyên tư vấn cho chính phủ trong việc thực hiện những cải cách lớn trong cơ cấu, đặc biệt là xóa bỏ những hạn chế trong giao dịch ngoại hối, tự do hóa thương mại, ban hành Luật đầu tư mang tính chất thị trường và cởi mở và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Cộng đồng quốc tế cũng đã bày tỏ lòng tin tưởng vào sự phát triển bền vững của đất nước. Trong bản điều tra nghiên cứu của mình, công ty Solomon Brothers đã dự đoán rằng công cuộc phục hồi kinh tế của đất nước sẽ còn tiếp tục diễn ra trong suốt năm 1996.

Điều này chỉ ra rằng khác với chu kỳ bùng nổ phát triển trước đây, sự tăng trưởng ngày càng tăng theo xu hướng đầu tư và xuất khẩu hơn là theo nhu cầu tiêu dùng.

Kết luận

Từ những ý kiến trên đây, tôi muốn các bạn chú ý tới các điểm sau :

1. AFTA sẽ là phương tiện hợp tác kinh tế hữu hiệu hơn trong nội bộ ASEAN.

2. Để tận dụng được các cơ hội và đối phó với những thách thức do AFTA và những trào lưu tự do hóa mậu dịch đang diễn ra trên toàn cầu như của WTO, các nước thành viên ASEAN cần phải có những chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên toàn cầu để phù hợp với quy mô phát triển kinh tế và tương trợ lẫn nhau.

3. Để đối phó với những thách thức của AFTA, Philippines đã đưa ra những chính sách tự do hóa thương mại, nâng cao khu vực xuất khẩu và cải thiện môi trường đầu tư của đất nước. Đối với Việt Nam, ban hành luật mới về đầu tư nước ngoài là một bước tiến theo hướng này.

4. “Bài học” chính mà Việt Nam có thể rút ra từ kinh nghiệm của Philippines đó là các chính sách thương mại thông thoáng và một môi trường đầu tư rộng mở để có thể cuối cùng có lợi cho nền kinh tế của mình. Tuy nhiên Việt Nam vẫn cần cố gắng nhiều để nổi bật lợi thế so sánh của mình so với các nước thành viên ASEAN khác để tránh những cạnh tranh có hại trong khi theo đuổi mục đích đôi bên cùng có lợi và trật tự kinh tế hài hòa trong khu vực.

Với những tiềm năng sẵn có và khả năng thật sự của mình, Việt Nam có thể đối phó được với những thách thức của AFTA. Rõ ràng là đã sẵn có ý chí chính trị để đạt được thành công.

Tôi tin tưởng rằng, theo tinh thần đoàn kết của ASEAN, Philippines cũng như các nước thành viên khác của ASEAN sẽ bằng mọi cách sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế để có khả năng cạnh tranh trên toàn cầu./.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

TIN TỨC CÙNG CHUYÊN MỤC

THÔNG TIN MỚI ĐƯA KHÁC