Số 20 - Những biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại trong khuôn khổ WTO

04:03 22/03/2012

Những biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại trong khuôn khổ WTO

Tác giả: Ngô Duy Ngọ.

Những biện pháp do chính phủ tiến hành nhằm thu hút và điều tiết các nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ của một quốc gia bao gồm khuyến khích về tài chính, nguồn vốn vay, giảm thuế, ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu, nguồn ngoại tệ, những điều kiện về sản xuất, chuyển giao công nghệ... có ảnh hưởng đến mậu dịch quốc tế được gọi là những biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại (TRIMs). Xuất phát từ nhận thức cần phải duy trì quyền kiểm soát trực tiếp hoạt động kinh tế của các công ty xuyên quốc gia (TNCs), vì sự phát triển của đất nước, bảo vệ và tăng cường khả năng cạnh tranh các công ty nội địa trên thị trường thế giới, đồng thời để đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán, chính phủ các nước đang phát triển đã đưa ra những biện pháp kể trên. Đó là những công cụ hết sức quan trọng và cần thiết đối với nền kinh tế của các nước này.

Vì vậy, không ngạc nhiên khi các nước đang phát triển, thậm chí cả các nước công nghiệp mới cũng kiên quyết chống lại đề nghị thảo luận một cách tổng thể Hiệp định đa phương về hạn chế hoặc cấm sử dụng TRIMs do các nước phát triển đưa ra tại vòng đàm phán Uruguay. TRIMs là một vấn đề mới được đưa vào thảo thuận trong khuôn khổ của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT và sau đó, trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trước hết là do chính quyền Mỹ lo ngại các nước đang phát triển sẽ kiểm soát và hạn chế phạm vi hoạt động của các nhà đầu tư Mỹ.

1. Quá trình đàm phán:

Trong quá trình đàm phán luôn có hai xu hướng trái ngược nhau về TRIMs. Xu hướng thứ nhất cho rằng tất cả các biện pháp đầu tư có ảnh hưởng tới thương mại cần được bãi bỏ hoặc phải được xem xét trong từng trường hợp cụ thể. Xu hướng thứ hai cho rằng liệu TRIMs có bị ảnh hưởng hoặc không phù hợp với các điều khoản đang hiện hành của Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại được thông qua năm 1994 (GATT-94) hay không ? Hay là sẽ được nâng lên thành một Hiệp định để áp dụng cho tất cả các nước ?

Các nước công nghiệp phát triển, trong đó có Mỹ, Nhật ủng hộ việc thiết lập một Hiệp định đầu tư đa phương, bởi Hiệp định này chỉ quy định quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là đối với các công ty xuyên quốc gia. Các nước nói trên cho rằng TRIMs có những ảnh hưởng không tốt đến thương mại quốc tế vì vậy cần phải có một bộ luật, hoặc một Hiệp định nhằm qui định rõ ràng những nguyên tắc để kiểm soát và hạn chế phạm vi tác động của TRIMs. Trong các đề nghị của Mỹ, Nhật Bản, EU, Thuỵ Sĩ, các nước này đã liệt kê hàng loạt các đòi hỏi mà những nước nhận đầu tư áp đặt, theo họ, có ảnh hưởng tiêu cực tới việc xuất nhập khẩu.

Mỹ cho rằng GATT 94 đã đề cập tới các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại, nhưng cần phải cụ thể hoá hơn nữa những nguyên tắc đã có, và một số TRIMs cần phải được loại bỏ, một số khác cần được kiểm tra, đánh giá cụ thể những hậu quả do chúng gây ra. Theo đề nghị của Mỹ cần thiết phải thành lập một uỷ ban theo dõi việc thực hiện TRIMs và định ra thời hạn cụ thể để tiến tới loại bỏ toàn bộ TRIMs, có tính đến lợi ích của các nước đang phát triển.

Nhật Bản lại nhấn mạnh tới phương pháp xác định tác động của TRIMs nhằm phân loại các TRIMs không phù hợp với những nguyên tắc của GATT (loại A). Theo Nhật Bản, loại "A" bao gồm những đòi hỏi về tỷ lệ các phụ kiện sản xuất tại nước nhận đầu tư trong toàn bộ thành phẩm, những qui định về xuất khẩu, cân bằng cán cân thanh toán, khối lượng sản phẩm bán trong thị trường nội địa, chuyển giao công nghệ... cần phải được loại bỏ.

Đề nghị của các nước EU và Bắc Âu chỉ tập trung vào những biện pháp có ảnh hưởng trực tiếp đối với thương mại và liên quan trực tiếp với các điều khoản của GATT(1) . Các nước này phân biệt rõ những vấn đề chung của đầu tư trực tiếp và những vấn đề cá biệt liên quan đến thương mại, vì vậy không ủng hộ việc thành lập một uỷ ban như Mỹ đề nghị. Họ cho rằng tác động trực tiếp và gián tiếp của các biện pháp đầu tư cần được xem xét và đánh giá một cách chính xác, khách quan. Những tác động gián tiếp do TRIMs gây ra, theo các nước trên, chủ yếu liên quan đến các loại giấy phép đầu tư, nhập khẩu, những đòi hỏi về chuyển giao công nghệ, chuyển lợi nhuận về nước và những hạn chế khác về ngoại tệ. TRIMs có tác động trực tiếp cần được xem xét tại Cơ quan giải quyết các tranh chấp của WTO. Các nước Bắc Âu còn cho rằng hai TRIMs cần phải loại bỏ là những đòi hỏi về tỷ lệ phụ kiện sản xuất trong nước trong toàn bộ thành phẩm và những qui định về xuất khẩu, nhưng có tính đến lợi ích của các nước đang phát triển.

Về phần mình, các nước đang phát triển chỉ muốn thảo luận những biện pháp có ảnh hưởng trực tiếp đáng kể đối với thương mại, vì một số TRIMs khác đối với họ là cần thiết để phân hướng các nguồn đầu tư nước ngoài phù hợp với mục đích phát triển kinh tế đất nước và chống lại sự bành trướng, độc quyền, cạnh tranh của các TNCs. Mặt khác, do muốn có sự đối xử ưu đãi từ phía các nước phát triển, họ đề nghị các nước này trong các cuộc đàm phán cần phải tính đến những điều khoản ưu đãi đã được ghi trong GATT. Malaysia gắn TRIMs với các điều khoản của phần IV, GATT-94, đặc biệt là các điều XXXVI mục b, điều XXXVI khoản 5, 9 và điều XXXVII khoản 3 mục c. Â'n Độ cho rằng chỉ có 2 TRIMs tác động trực tiếp đến thương mại nhưng rất cần thiết để chống lại những hạn chế mà TNCs thường áp dụng.

Nhằm sớm đạt được một Hiệp định về TRIMs, Chủ tịch nhóm đàm phán đã cố gắng làm giảm bớt sự khác biệt về lập trường giữa các nước bằng cách đưa ra một dự thảo Hiệp định, ở một mức độ nào đó, thể hiện sự thoả hiệp của các bên, nhưng đã gặp phải sự phản đối của gần như tất cả các nước, vì dự thảo này không thoả mãn được các vấn đề liên quan đến phạm vi áp dụng của Hiệp định. Tháng 12/1991 Tổng giám đốc GATT đã đưa ra dự thảo văn kiện cuối cùng, thực chất là nội dung Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại và đã được các nước thông qua tại Marrkesh tháng 4/1994. Hiệp định này một mặt không cho phép áp dụng một số các TRIMs nhưng mặt khác cũng qui định rõ thời hạn chuyển tiếp cho các nước thành viên thực hiện những điều khoản đã được thoả thuận : đối với các nước phát triển là 2 năm, các nước đang phát triển là 5 năm, các nước có nền kinh tế kém phát triển là 7 năm.

2. Nội dung chính của Hiệp định về TRIMs:

Hiệp định về TRIMs gồm phần mở đầu, 9 điều và một phụ lục kèm theo qui định những biện pháp đầu tư của nước tiếp nhận không phù hợp với các điều III và XI khoản 1 của GATT. Những biện pháp đó là :

a. Khối lượng nhập khẩu chỉ được giới hạn ở mức tương đương với khối lượng hàng xuất khẩu của công ty.

b. Qui định về tỷ lệ các phụ kiện được sản xuất tại chỗ trong thành phẩm (tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm), đòi hỏi này trái với điều III của GATT là không được phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu.

c. Những hạn chế liên quan đến sử dụng nguồn ngoại tệ. Khối lượng ngoại tệ dùng để nhập khẩu chỉ hạn chế ở mức tương đương với khối lượng ngoại tệ mà công ty có được thông qua xuất khẩu hoặc các nguồn khác.

d. Những yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu đối với các sản phẩm được sản xuất trên thị trường nội địa.

Đối với những nhà kinh doanh của các nước phát triển, Hiệp định này chỉ giới hạn trong những TRIMs nói trên, mà không qui định phải loại bỏ những biện pháp khác có ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại: không loại bỏ tỷ lệ đóng góp vốn của các công ty nội địa trong xí nghiệp liên doanh, hoặc những đòi hỏi về chuyển giao công nghệ...

Hiện nay nhiều nước đang phát triển qui định tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm, chẳng hạn như Brasile áp dụng qui định trên đối với ngành lắp ráp ô tô trong nước : năm đầu tiên, nhà máy lắp ráp phải sử dụng 20% phụ kiện sản xuất tại địa phương trong 1 chiếc ô tô, năm thứ hai 40%, năm thứ ba 60%, nếu các công ty nước ngoài không đáp ứng được những điều kiện trên thì phải chịu mức thuế nhập khẩu rất cao (2) . Quyết định này gây nên sự phản đối của nhiều nước trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc và EU. Các nước này đã yêu cầu Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO xem xét và đưa ra phán quyết cuối cùng.

3. Hiệp định Đầu tư đa phương:

Những hạn chế của Hiệp định về TRIMs gây nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia (TNCs). Do vậy các nước công nghiệp phát triển đã đưa ra một đề nghị mới nhằm khắc phục những hạn chế đó: Hiệp định đầu tư Đa phương (MAI). Theo họ, Hiệp định này cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư không hạn chế vào hầu hết các ngành kinh tế của các nước (trừ một số ngành liên quan đến an ninh quốc gia), được tự do chuyển vốn và lợi nhuận ra bên ngoài và phải được đối xử bình đẳng như các công ty của nước chủ nhà.

Trong các cuộc thảo luận, một bên là các nước công nghiệp phát triển, đại diện cho các công ty xuyên quốc gia, cho rằng quá trình toàn cầu hoá sẽ được thúc đẩy nhanh hơn nếu như MAI được thông qua trong khuôn khổ WTO. Nhưng các nước đang phát triển đã phản đối việc thảo luận MAI trong khuôn khổ của WTO với lý do là đã có Hiệp định về TRIMs, nên không cần thiết phải có MAI. Các nước này cho rằng MAI là công cụ của TNCs vì nó chỉ qui định quyền lợi mà không nói đến nghĩa vụ và trách nhiệm của TNCs, là ý đồ trở lại chính sách thực dân hoá về kinh tế. Indonesia cho rằng họ không thể chấp nhận MAI, còn Â'n Độ bày tỏ quan điểm của họ là các nước phát triển có thể đàm phán với nhau về tất cả những gì họ muốn, nhưng không thể đa phương hoá hay quốc tế hoá vấn đề đầu tư nếu không có sự đồng ý của các nước đang phát triển. Duy nhất chỉ có một nước đang phát triển là Madagasca ủng hộ đề nghị trên.

Đa số các nước đang phát triển như Â'n Độ, Bangladesh, Zambia, Indonesia, Aicập, Ghana lên tiếng phản đối và cho rằng cần phải có thời gian xem xét trước khi thảo luận, nhưng chỉ trong khuôn khổ Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD). Vì thực tế, tất cả các quyết định của UNCTAD chỉ mang tính chất khuyến nghị đối với các thành viên, không có tính chất bắt buộc phải thực hiện. Trái lại, tất cả các Hiệp định đa phương và các quyết định của WTO có giá trị pháp lý, mà các nước thành viên phải có trách nhiệm thực hiện. Trong trường hợp một nước thành viên nào đó không thực hiện các quyết định của Cơ quan giải quyết các tranh chấp hoặc nghĩa vụ của mình, các nước thành viên khác sẽ được quyền áp dụng các biện pháp trả đũa trong buôn bán. Chính vì lý do này mà các nước đang phát triển không muốn MAI được thảo luận, sau đó thông qua và trở thành Hiệp định đa phương trong khuôn khổ WTO. Ngược lại, các nước phát triển (EU, Nhật Bản, Canada...) không muốn chỉ giới hạn trong khuôn khổ UNCTAD, mà họ chính thức đề nghị đưa ván đề này vào Chương trình nghị sự của Hội nghị cấp Bộ trưởng các nước thành viên WTO, được tiến hành từ 9 đến 13 tháng 12/1996 tại Singapore, nhưng bị các nước đang phát triển phản đối. Trước sức ép của các nước phát triển, các nước đang phát triển đã phải đồng ý tạm thời thành lập Nhóm công tác (Working group-WG) nghiên cứu về MAI.

Thực chất đây là sự thoả hiệp của cả hai nhóm nước. Các nước phát triển đã ý thức được, dù các nước đang phát triển muốn hay không, việc đưa MAI vào trong khuôn khổ của WTO chỉ là vấn đề thời gian. Bởi hiện nay các công ty xuyên quốc gia đang tích cực hoạt động tại hầu hết các nước trên thế giới và đó là cơ sở giúp các nước phát triển khẳng định sự tin tưởng của họ. TNCs có sức mạnh về tài chính, nắm giữ những công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến và đặc biệt nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Thực tế đã cho thấy, đúng như dự đoán của các nước phát triển, họ đã lấn dần từng bước. Sau Hội nghị cấp Bộ trưởng tháng 12/1996, Nhóm công tác về MAI đã tiến hành kỳ họp đầu tiên vào tháng 6/1997, Mỹ, các nước EU, cố tình tìm mọi cách làm thay đổi chức năng của WG, nhằm biến quá trình nghiên cứu và thảo luận mối liên quan giữa đầu tư và thương mại trong khuôn khổ MAI thành nội dung của một cuộc đàm phán giữa các nước. Một lần nữa các nước Â'n Độ, Pakistan, các nước ASEAN, Tanzania, Ghana, Uganda, Ai Cập, Argentina... đã kiên quyết chống lại ý định trên. Cũng chính tại cuộc họp tháng 6/1997, Phó Trưởng đoàn Đại diện Thường trực của Indonesia, bà Halida Milni, thay mặt các nước ASEAN thành viên WTO tuyên bố "cần phải có một sự cố gắng để tránh tạo ra môi trường của một cuộc đàm phán"(3).

4. Việt Nam với TRIMs và MAI:

Như vậy, tại sao các nước đang phát triển nói trên, trong khi vẫn tiếp tục nhận nhiều vốn đầu tư nước ngoài vẫn thường xuyên sửa đổi những điều khoản của các bộ luật đầu tư nhằm tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi, và có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường hơn chúng ta lại kiên quyết phản đối đưa MAI vào trong khuôn khổ những nguyên tắc của WTO ? Giải đáp được câu hỏi trên là hết sức cần thiết, vì chúng ta đang trong quá trình chuẩn bị cho kỳ họp đầu tiên của Nhóm công tác (Working party - WP). Nhóm này sẽ xem xét đơn xin gia nhập WTO của Việt Nam. Thực tế có rất nhiều vấn đề liên quan đến MAI mà chính các nước đang phát triển trực tiếp tham gia nghiên cứu và thảo luận cũng chưa lý giải được một cách rõ ràng, cụ thể. Đó là sự tác động qua lại giữa đầu tư và thương mại, tác động của nó đối với tăng trưởng và ổn định kinh tế ở tầm vĩ mô, đối với sự phân phối và thu nhập, khả năng cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và các kỹ năng quản lý, sự di chuyển vốn và sức lao động, đồng thời cần phải rà soát lại để thấy được sự trùng lặp, hoặc sự xung đột giữa các điều khoản về đầu tư có liên quan đến thương mại trong gần 30 Hiệp định của WTO với các điều khoản khác trong các hiệp định song phương, đa phương đã được ký kết giữa các nước thành viên...

Việc trở thành thành viên chính thức của WTO là rất khó khăn. Nhưng đối với Việt Nam sẽ còn khó khăn và phức tạp hơn, bởi Bị vong lục về chính sách Ngoại thương của ta đã được tiến hành soạn thảo từ 1994 và chính thức lưu hành cho các nước thành viên WTO năm 1995, trong khi đó Luật Thương mại gồm 264 điều mới chỉ vừa được Quốc hội thông qua vào tháng 5/1997. Nhưng về cơ bản, nội dung của Luật Thương mại vẫn còn cách biệt rất xa với những nguyên tắc và qui định chung của các Hiệp định về WTO, thiếu nhiều điều khoản liên quan đến các vấn đề như các biện pháp bảo hộ, biện pháp đối kháng, mức thuế ưu đãi (MFN)... Điều 8 của Luật Thương mại có đề cập tới vấn đề cạnh tranh lành mạnh và chống bán phá giá nhưng còn quá sơ sài xét theo những nội dung của Hiệp định về Thực hiện điều VI, GATT 94 và cần được cụ thể hoá bằng văn bản dưới luật. Vì nếu như có sự tranh chấp liên quan đến cạnh tranh và đặc biệt là vấn đề bán phá giá trên thị trường Việt Nam thì thực tế, điều 8 chưa đủ cơ sở để giải quyết các tranh chấp nói trên. Như vậy, chúng ta sẽ gặp nhiều trở ngại trong quá trình giao lưu và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Chỉ riêng trong lĩnh vực đầu tư, mặc dầu chúng ta đã nhiều lần sửa đổi và bổ sung Luật đầu tư nước ngoài với mục đích tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn để thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, nhưng còn có những điều khoản mâu thuẫn với những qui định trong Hiệp định về TRIMs. Ví dụ, việc quy định tỷ lệ xuất khẩu, hoặc tiêu thụ hàng hoá trên thị trường nội địa (điều 8 trong Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh và điều 14 trong Hợp đồng Hợp tác Liên doanh, trong Nghị định số 12/CP ngày 18 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ) ; Hoặc vấn đề sử dụng nguồn ngoại tệ : Thông tư số 02/TT - NH 7 (tháng 7/1997) hướng dẫn cụ thể về quản lý ngoại hối đối với các tổ chức và cá nhân người nước ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, xí nghiệp liên doanh, quy định từ 1/1/1998 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được mua ngoại tệ từ các ngân hàng Thương mại Việt Nam mà phải tự cân đối nhu cầu ngoại tệ bằng cách xuất khẩu sản phẩm hoặc các nguồn ngoại tệ hợp pháp khác. Thực tế qui định này xuất phát từ điều 33 trong Luật đầu tư nước ngoài của ta, nhưng chưa phù hợp với những qui định của TRIMs. Vậy, một câu hỏi được đặt ra là liệu Việt Nam có thể đưa ra những quy định tương tự như trên hay không trong quá trình đàm phán và ngay cả sau khi trở thành thành viên chính thức ? Câu trả lời là hoàn toàn có thể, nếu chúng ta đưa ra được lý do chính đáng phù hợp với những điều khoản ưu đãi, miễn trừ trong các Hiệp định của WTO. So sánh một vài sự khác biệt giữa những qui định của Việt Nam trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, ngân hàng với những quy định và nguyên tắc của các Hiệp định về WTO, người viết chỉ muốn nhấn mạnh tới hai vấn đề sau đây: Một là, cần có sự chuẩn bị hết sức cẩn thận, ngay từ khi soạn thảo và trả lời các câu hỏi của các nước thành viên WTO liên quan đến các vấn đề được trình bày trong Bị vong lục về Chính sách Ngoại thương nói trên, tránh trả lời dài, không đúng trọng tâm; Hai là, tận dụng tới mức tối đa những điều khoản ưu đãi và miễn trừ tạm thời dành cho các nước đang phát triển khi tham gia đàm phán với các đối tác buôn bán chủ yếu, bởi chính họ sẽ đưa ra những điều kiện hết sức khắt khe cho chúng ta như đối với một nước thành viên, mặc dù Việt Nam chưa là thành viên chính thức.

Hơn nữa, WTO là một hệ thống các qui định về mở cửa thị trường và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các nước thành viên, mà không phải là một tổ chức buôn bán hoàn toàn tự do theo quan niệm của một số chuyên gia và học giả, kể cả các chuyên gia và học giả phương Tây, vì bản thân WTO cho phép các nước thành viên được bảo hộ nền kinh tế của mình, nhưng phải thông qua các biện pháp thuế quan. Các điều khoản cấm bán phá giá, quyền được tự vệ, cấm phân biệt đối xử trong thương mại... là nhằm mục đích thực hiện các nguyên tắc trên. Chúng ta cần triệt để khai thác khía cạnh này trong đàm phán. Vì lẽ đó, vấn đề mở cửa thị trường nội địa của ta đến mức độ nào, để vừa bảo vệ nền kinh tế trong nước vừa thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân phát triển và đứng vững trong sự cạnh tranh trên thương trường quốc tế là trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán. Rõ ràng, cần xác định ưu tiên cho những ngành quan trọng đối với nền kinh tế, nhưng như vậy, không có nghĩa là thả nổi các ngành kinh tế khác. Nền kinh tế của chúng ta có cơ cấu ngành rất đa dạng, tiềm năng kinh tế rất lớn, tài nguyên tương đối phong phú, với thị trường gần 80 triệu dân, tuy vậy, sức mạnh kinh tế còn rất khiêm tốn nếu so sánh với các nước láng giềng xung quanh, khối lượng xuất nhập khẩu còn nhỏ lại tập trung vào một số mặt hàng chủ lực, sức cạnh tranh của hàng nội địa rất yếu, tích luỹ nội bộ và hiệu quả sử dụng vốn thấp, tỷ lệ thất nghiệp còn cao... Vậy điều gì sẽ xảy ra, nếu chúng ta mở cửa thị trường nội địa dưới sức ép và điều kiện của các đối tác buôn bán chủ yếu, mà không có sự cân nhắc tính toán dựa trên cơ sở lợi ích của toàn bộ nền kinh tế ? Như vậy, nếu thiếu cách nhìn sâu xa, tổng thể trong việc mở cửa thị trường thì hậu quả tiêu cực sẽ không chỉ dừng lại trong lĩnh vực kinh tế.

Tài liệu trích dẫn:

1. Submision by the EU and Nordic Countries. -MIN.GNG/NG. 12/W/6.

2. Notification by Brasil to the WTO Secretariat, 1995.

3. Third World Economics, 16-30 June 1997.

Tài liệu tham khảo:

1. Agreement on Trade-Related Investment Measures (TRIMs).

2. GATT 94.

3. Reports of the Working Group on TRIMs, 6/1997.

4. Luật Thương mại, 1997.

5. Luật Đầu tư nước ngoài 1996./.

Cùng chuyên mục