

Tản mạn đầu xuân
Tác giả: Phan Doãn Nam.
Mặc dù người ta chưa nhất trí với nhau về thời gian khởi đầu của thế kỷ và thiên niên kỷ mới là vào 00 giờ ngày 1/1/2000 hay là ngày 1/1/2001, nhưng mọi người đều tự hào là đã được chứng kiến buổi giao thoa của hai thế kỷ và nhất là của hai thiên niên kỷ vì đó mới đúng là "cơ hội ngàn năm có một". Người ta hồi hộp chờ đợi giờ phút lịch sử ấy bao nhiêu thì cũng khẩn trương hối hả bấy nhiêu trong việc chuẩn bị hành trang cho mình để đi vào thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới.
Thiên niên kỷ thứ hai đã đánh dấu một bước nhảy vọt lớn trong sự phát triển của xã hội loài người từ xã hội nửa mông muội sang xã hội của nền văn minh tin học. Một ngàn năm nữa, khi các nhà khảo cổ tổ chức khai quật những di chỉ của loài người cuối thế kỷ 20 để lại thì chắc họ sẽ phát hiện ra xác của các con tàu vũ trụ, tên lửa xuyên lục địa, xác các người máy và vô khối hàng điện tử dân dụng từ nồi cơm điện đến các dàn casset-video thay vào những trống đồng, những chú lính đất nung như hiện nay. Điều kỳ diệu hơn nữa là trên trái đất này chỗ nào cũng tìm thấy các di chỉ của nền văn minh đó. Các nhà khảo cổ của thiên niên kỷ thứ 3 có lẽ sẽ đi đến kết luận là vào cuối thế kỷ 20 loài người đã sống trong một nền văn minh toàn cầu, nền văn minh của công nghệ số thay cho các nền văn minh đồ đá, đồ đồng có tính khu vực trước kia.
Trong thiên niên kỷ thứ II thì thế kỷ XX được xem là thế kỷ văn minh và nhiều nghịch lý nhất. Bộ óc con người đã phát triển đến độ có thể tạo ra khả năng huỷ diệt nhiều lần toàn bộ sự sống trên trái đất nhưng đồng thời có khả năng tạo ra một thiên nhiên thứ hai. Một nghịch lý khác là trong lúc con người còn rất lúng túng trong việc đối phó với thiên nhiên và các dịch bệnh thế kỷ như AIDS thì loài người lại có khả năng thực tế để đi chinh phục các thiên thể khác trong vũ trụ như mặt trăng, sao hoả v.v...
Tuy nhiên trong cái mớ nghịch lý tưởng chừng như hỗn độn đó thì cuộc sống vẫn phát triển theo những quy luật riêng của nó.
Cách đây 100 năm, nếu ta nhìn kỹ vào các mâu thuẫn cơ bản và xu thế thời đại lúc đó thì không cần phải là nhà tiên tri chúng ta cũng có thể đoán biết thế kỷ 20 sẽ là một thế kỷ gây ra những đảo lộn lớn trong đời sống quốc tế và tư duy con người. Đó là một thế kỷ của chiến tranh và cách mạng. Ngày nay khi nhìn lại thế kỷ 20 người ta thường nói đến chiến tranh mà ít nói đến cách mạng. Nhưng chính cách mạng mới là nhân tố đáng nói nhất. Có hai cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong thế kỷ này là cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 và cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 diễn ra vào nửa sau của thế kỷ 20. Hai cuộc cách mạng này không những đã biến đổi toàn bộ đời sống quốc tế mà còn làm biến đổi cả tư duy của con người. Nói đến Cách mạng tháng 10 Nga người ta thường nói đến nhà nước Xô Viết nhưng thật ra nhà nước Xô Viết chưa phải là toàn bộ thành tựu và ý nghĩa của Cách mạng Nga. Những lý tưởng của Cách mạng tháng 10 Nga vẫn tiếp tục tồn tại sau khi nhà nước Liên Xô sụp đổ. Cũng như trước đây lý tưởng của công xã Paris vẫn tồn tại và phát huy ảnh hưởng đối với thế giới mặc dù công xã Paris chỉ tồn tại 72 ngày. Chính những thành tựu và ảnh hưởng của hai cuộc cách mạng vĩ đại nhất của thế kỷ 20 sẽ tiếp tục là bệ phóng đẩy loài người đi vào thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ 3. Cách mạng tháng 10 Nga đã thức tỉnh toàn thế giới, đã cách mạng hoá và dân chủ hoá quan hệ quốc tế, quan hệ giữa con người với con người. Nếu không có cách mạng tháng 10 Nga thì chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục là chủ nghĩa tư bản dã man, những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ III chỉ làm cho nó dã man hơn. Cách mạng khoa học công nghệ chịu tác động của Cách mạng tháng 10 nhưng đồng thời phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện đại cũng chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới. Chính sự tác động qua lại của hai cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong thế kỷ 20 đã tạo ra xu thế mới trong đời sống quốc tế hiện đại. Đó là hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển.
Như vậy trước ngưỡng cửa của thế kỷ mới, tình hình thế giới và quan hệ quốc tế đã chuyển sang một bước ngoặt, loài người đang được sống trong những điều kiện về cơ bản khác hẳn với tình trạng u tối, lo âu cách đây 100 năm. Điều đó báo hiệu thế kỷ 21 là thế kỷ đầy hy vọng. Thế giới sẽ an ninh hơn, nhân văn hơn và chắc chắn sẽ thịnh vượng hơn gấp nhiều lần so với thế kỷ 20 mặc dù thế kỷ 20 là thế kỷ đã sản xuất ra một số của cải to lớn bằng tất cả của cải xuất ra trong 19 thế kỷ trước cộng lại. Song hầu như trong thiên nhiên luôn có quy luật bù trừ. Sự chết chóc và huỷ diệt trong thế kỷ 21 có thể sẽ ít hơn và khả năng chiến tranh thế giới hầu như đã được loại trừ và sự nghèo đói cũng sẽ được giảm đi một cách tương đối thì loài người lại phải đối phó với những hiểm hoạ mới như sự nóng lên của quả đất, vấn đề dân số, sự phát sinh và phát triển của các căn bệnh thế kỷ v.v...
Ngày nay hầu như đã như một cái mốt khi nói đến thách thức bao giờ cũng phải nói đến thuận lợi kèm theo. Người ta cố tình không hiểu rằng muốn tiến lên thì phải thấy hết thách thức và vượt qua các thách thức đó.Đành rằng những thuận lợi sẽ giúp ta dễ dàng hơn trong việc vượt qua các thách thức nhưng bản thân việc làm thế nào để có thể tận dụng những thuận lợi sẵn có cũng là một thách thức. Tất nhiên nếu chỉ nói thách thức mà không nói đến thuận lợi thì sẽ nhìn sự vật với con mắt bi quan, chán nản. Với cách đề cập nói trên, chúng ta hãy thử phân tích xem đâu là những vấn đề quan tâm hàng đầu của các dân tộc trong thế kỷ tới.
1. Trước hết là vấn đề phát triển. Sở dĩ phải đặt vấn đề này thành mối quan tâm hàng đầu là vì thế giới có tiến lên hay không là do vấn đề phát triển. Phát triển bao gồm cả vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Dù chiến tranh hay hoà bình thì vẫn phải phát triển. Thế kỷ 20 đầy chiến tranh nhưng cũng là thế kỷ phát triển nhất từ trước đến nay. Lâu nay người ta thường nói và chỉ nói đến mặt thuận lợi về cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, của xu thế liên kết toàn cầu và khu vực. Nhưng những thách thức đặt ra cho các dân tộc trong công cuộc phát triển của thế kỷ 21 chính là những mặt trái của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, của sự phụ thuộc lẫn nhau và xu thế toàn cầu hoá. Thực tế là không phải nước nào cũng tận dụng được thành quả của cuộc cách mạng cách mạng khoa học công nghệ mới trong khi đó bất cứ nước nào cũng đứng trước nguy cơ bị tụt hậu trước những phát triển mới của khoa học - công nghệ. Một trong những nguy cơ đối với nước ta là nguy cơ tụt hậu. Điều đó đã được Đảng ta nhìn thấy từ lâu. Việc tự động hoá và người máy hoá sản xuất dù muốn hay không cũng sẽ thải hàng loạt lao động ra khỏi công xưởng hoặc đẩy họ xuống làm những công việc thứ yếu của quá trình sản xuất. Theo các nhà khoa học thì hiện nay cách mạng tin học đang ở thời kỳ đầu. Khoảng 20 năm nữa thì cuộc cách mạng này mới lên đến đỉnh điểm. Khi đó giá cước điện thoại sẽ rẻ đến mức hầu như là miễn phí. Người ta tính rằng đến năm 2010 một cú điện thoại xuyên Đại Tây Dương kéo dài đàm thoại 1 giờ liền chỉ mất 3 cent (1 đôla bằng 100cent) (xem SAIS Review trang 94). Thế nhưng để có được "đầu ra" rẻ mạt đó người ta phải bỏ ra một số vốn khổng lồ mà chỉ có các nước giầu mới làm được. Một ví dụ khác: Lâu nay một số nền kinh tế Đông á, đặc biệt Đông Nam á phất lên được là nhờ xuất khẩu hàng điện tử. Nhưng hiện nay thị trường này hầu như đã bão hoà vì hầu như các nước đang phát triển có lao động thừa và rẻ đều lao vào nền công nghiệp lắp ráp này. Con đường đi tới sẽ như thế nào ? Tất nhiên không thể đi theo con đường của Tần Thuỷ Hoàng là "đốt sách chôn Nho" được.
Phải thừa nhận một điều là hiện nay chúng ta nói rất nhiều nhưng hiểu rất ít về cái gọi là sự tuỳ thuộc lẫn nhau và xu thế toàn cầu hoá. Hơn nữa chúng ta lại quá nhấn mạnh đến mặt tích cực của hai xu thế này, xem chúng là quy luật phát triển mà không ai có thể đứng ngoài được. Điều đó không sai nhưng bất cứ vấn đề gì cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực. Trong một thế giới mà sự phát triển không đồng đều là một quy luật thì mặt tích cực và mặt tiêu cực của hai xu thế trên tất nhiên tác động không đồng đều lên các nước khác nhau. Trong các nước công nghiệp phát triển, vấn đề lợi hại cũng khác nhau. Còn đối với các nước đang phát triển thì về lâu dài ảnh hưởng của hai xu thế này về cơ bản là tích cực nhưng trước mắt cần chú ý đến mặt tiêu cực. Hội nghị thượng đỉnh không chính thức của 9 nước ASEAN họp giữa tháng 12/1997 đã nêu lên một cách đúng đắn rằng cần phải nghiên cứu mặt tiêu cực của xu thế toàn cầu hoá. Có lẽ đây là bài học mà các nước này đã rút ra sau khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Sự thật thì các mặt tiêu cực của vấn đề cùng lệ thuộc lẫn nhau và xu thế toàn cầu hoá đã tồn tại một cách khách quan từ khi xuất hiện các xu thế này. Đối với tất cả các quốc gia dân tộc, thì vấn đề lớn nhất là vấn đề chủ quyền. Lợi ích dân tộc lớn nhất nằm ở trong khả năng một quốc gia có bảo vệ được chủ quyền của mình hay không. Chủ quyền dân tộc gồm chủ quyền đối nội và chủ quyền đối ngoại. Vấn đề phụ thuộc lẫn nhau và xu thế toàn cầu hoá trước hết đang chạm vào chủ quyền đối ngoại của một nước, trước nhất là trong lĩnh vực kinh tế như thuế quan, tỷ giá hối đoái, thị trường chứng khoán v.v... Đã hội nhập hoặc nói nôm na hơn là đã tham gia liên kết kinh tế dù là khu vực hay thế giới thì không có một chính phủ nào dù mạnh đến đâu lại có thể độc lập định ra chế độ thuế quan hay tỷ giá hối đoái cho đồng tiền của mình. Thậm chí các nước công nghiệp phát triển châu Âu cũng phải tự hạn chế chủ quyền của mình trong việc hoạch định ngân sách sao cho thâm hụt không quá 3% GDP để hình thành đồng tiền chung (EURO) vào năm 1999. Nước ta muốn tham gia AFTA thì đến năm 2006 phải cắt giảm thuế nhập khẩu xuống còn dưới 5%. Tất nhiên việc tuân thủ luật chơi chung sẽ làm cho các nước tiến nhanh hơn do phải cố gắng vượt bậc trước mắt để có lợi về lâu dài. Nhưng mặt tiêu cực của vấn đề cùng phụ thuộc lẫn nhau và xu thế toàn cầu hoá không dừng ở mặt kinh tế. Khi tuân thủ luật chơi chung về mặt kinh tế tức là đã từng bước tự do hoá nền kinh tế, cụ thể là phải mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài sẽ đẩy nhanh sản xuất trong nước, đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước nhưng đồng thời cũng làm cho sự phụ thuộc vào nước ngoài tăng lên và nhất là gây ra sự phân hoá giữa khu vực tư bản tư nhân và khu vực kinh tế quốc doanh. Sự cạnh tranh diễn ra không những giữa hàng ngoại và hàng nội mà còn giữa xí nghiệp có tư bản nước ngoài với xí nghiệp nhà nước mà phần thua thiệt thường là thuộc về hàng nội và các xí nghiệp nhà nước. Từ đó diễn ra sự phân hoá giữa hàng ngũ công nhân viên chức làm cho xí nghiệp nước ngoài và những người làm cho xí nghiệp quốc doanh, trước hết là về thu nhập và tiếp theo đó là về mặt sinh hoạt chính trị và xã hội. Wolfang H. Reinicke, một học giả hàng đầu của Viện Brookings đã kết luận rằng "trong lúc toàn cầu hoá liên kết các thị trường thì nó lại làm tan rã các nền chính trị" . Đó là một lời cảnh cáo không thể xem thường.
Với cuộc khủng hoảng tiền tệ - kinh tế hiện nay ở Đông A' người ta thấy tương lai của nền kinh tế châu A' không phải chỉ toàn một mầu hồng như trước đây. Liệu thế kỷ 21 có sẽ là thế kỷ Châu A' - Thái Bình Dương hay đấy chỉ là một huyền thoại. Sự phát triển kinh tế của châu A' trong thế kỷ tới đúng là đang đứng trước những thử thách rất lớn. Khi nói đến tương lai nền kinh tế châu A' người ta thường nói đến tiềm năng lớn, tốc độ tăng trưởng cao, tính năng động, thị trường lớn v.v... nhưng người ta quên đi một nhân tố rất quan trọng quyết định tương lai kinh tế châu A' là nền chính trị đầy biến động phức tạp của châu lục này. ít nhất ở châu A' chính trị vẫn còn là nhân tố quyết định. Một quyết định chính trị sai lầm sẽ làm đổ vỡ tất cả. Mà điều này thì hoàn toàn không thể loại trừ. Vì sự ổn định chính trị ở châu A' thật ra đang rất mong manh.
2. Những biến động diễn ra trên thế giới trong 100 năm qua đã làm cho quan hệ quốc tế trước thềm của thế kỷ 21 đã có những thay đổi cơ bản theo hướng hoà bình và dân chủ hơn. Tuy còn lâu mới có thể có một thế giới hoà bình, dân chủ trong đó mỗi dân tộc đều sống hữu nghị và bình đẳng với nhau nhưng cần phải ghi nhận rằng nhân loại cảm thấy hy vọng và tự tin hơn khi nhìn về tương lai.
Cách đây 100 năm, toàn bộ thế giới nằm trong tay một số cường quốc châu Âu. Sự "hoà hợp" giữa họ với nhau kéo dài gần hết thế kỷ 19 đang trên đà sụp đổ. Điều đó có nghĩa là họ đang chuẩn bị chiến tranh để chia lại thế giới. Đại đa số các nước A', Phi, Mỹ La tinh lúc này chỉ là những con "tốt đen" trên bàn cờ thế giới. Ngày nay tuy chưa có thể nói tất cả các nước đều bình đẳng với nhau nhất là giữa các nước lớn và nước nhỏ nhưng về nguyên tắc tất cả trên 180 nước đều là những quốc gia độc lập, có chủ quyền và không có một nước dù lớn và giàu mạnh đến đâu lại có thể bắt các nước khác làm theo mệnh lệnh của mình. Như vậy cộng đồng quốc tế đã tiến được một bước dài trên con đường dân chủ hoá. Nhưng điều quan trọng nhất trong thế giới ngày nay là các nước lớn đã thay đổi cách đề cập trong quan hệ đối với nhau và giữa họ với các nước nhỏ hơn. Đây là nhân tố quan trọng nhất trong việc hình thành một hệ thống quốc tế mới bước sang thế kỷ 21. Là những người thực tế, chúng ta cho rằng trong bất cứ hệ thống quốc tế nào thì vai trò các nước lớn và quan hệ giữa họ với nhau là nhân tố quyết định đối với việc giải quyết công việc thế giới. Mức độ quyết định đến đâu tỷ lệ nghịch với vai trò của các nước còn lại. Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ và nhân tố kinh tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt quốc tế, đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều tầng lớp quốc gia "trung lưu" có tiếng nói ngày càng quan trọng trên thế giới. Đây là một thực tế buộc người ta phải tính đến khi xem xét việc mở rộng thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Qua đây chúng ta có thể thấy hệ thống thế giới đang hình thành cho thế kỷ 21 là một hệ thống đa cực. Nó khác với tất cả các hệ thống thế giới đa cực đã từng tồn tại trước đây ở nhiều điểm rất cơ bản. Một là hệ thống đa cực đang hình thành và sẽ tồn tại trong thế kỷ 21 là một hệ thống dân chủ hơn, nó không phải là sự áp đặt của phe thắng trận đối với phe bại trận, nó không chỉ gồm đại diện của các nước lớn mà còn có đại diện cho các nước "bậc trung" khác. Do đó nó không còn hoàn toàn nằm dưới sự thao túng của các nước lớn. Sự phát triển không đồng đều của thế giới tất nhiên sẽ dẫn đến sự thay đổi vị trí của một số nước nào đó nhưng đây không phải là sự thay đổi so sánh lực lượng giữa các thế lực chống đối nhau nên không cần phải dùng đến chiến tranh để lập lại một trật tự quốc tế mới mà sự thay đổi đó có thể diễn ra dưới hình thức bầu cử dân chủ tại Liên Hợp quốc. Đặc điểm thứ hai của hệ thống quốc tế đa cực bước sang thế kỷ 21 là không có một nước nào dù giàu mạnh đến đâu lại có thể thực hiện bá quyền trong một thế giới mà tính phụ thuộc lẫn nhau đã trở thành một quy luật. Không có một nước nào có đủ khả năng để tự mình đứng ra giải quyết các vấn đề có tính chất toàn cầu. Do đó các nước phải tính toán thật cẩn thận trước khi hành động. Chỉ cần một sự trừng phạt phi quân sự như cấm vận kinh tế, cô lập về ngoại giao v.v... cũng làm cho nước đó lao đao. Đặc điểm thứ ba của hệ thống quốc tế mới là ngoài sự ràng buộc lẫn nhau trong hệ thống Liên Hợp quốc và các tổ chức của nó, các nước còn gắn bó với nhau thông qua các tổ chức có tính chất liên kết khu vực hoặc toàn cầu như WTO, APEC, EU, OSCE, ARF v.v... Những tổ chức có tính chất liên kết kinh tế hoặc diễn đàn an ninh này ngoài việc đưa lại quyền lợi cho các thành viên cũng còn có ý nghĩa buộc các nước tham gia phải tuân theo những luật chơi chung của cộng đồng quốc tế.
Chính những đặc điểm này đã tạo cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của hệ thống quốc tế mới sang thế kỷ 21 và không lặp lại vết xe đổ của các hệ thống quốc tế đa cực trước đây là chiến tranh.
Thách thức lớn nhất đối với hệ thống quốc tế mới trong thế kỷ 21 không phải xuất phát từ mối đe doạ của một nước lớn nào mà là từ các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo và các cuộc tranh chấp lãnh thổ, biên giới hiện nay nhất là ở khu vực A', Phi, Mỹ La tinh. Không có một tổ chức quốc tế nào dù là Liên Hợp Quốc được cải tổ có thể đảm nhiệm nổi vai trò lập lại hoà bình hoặc giữ gìn hoà bình ở mọi góc trời của thế giới. Đây là một công việc hết sức tốn kém. Người ta tính rằng năm 1988 các hoạt động giữ gìn hoà bình trên thế giới của Liên Hợp Quốc chỉ tốn 230 triệu USD nhưng đến năm 1994, con số đó đã lên đến 3,6 tỷ USD. Chỉ tính riêng việc lập lại hoà bình và thi hành Hiệp định Paris về Cămpuchia đã tốn mất 2 tỷ USD. Tôi không cho rằng những xung đột sắc tộc, tôn giáo, những xung đột giữa các nền văn minh sẽ dẫn đến chiến tranh thế giới thứ ba nhưng quả thực đây là những vết thương làm rỉ máu nhân loại còn lâu mới chấm dứt. Do đó dù hệ thống thế giới nào đi nữa thì ý nghĩa của nó cũng chỉ có tính tương đối khi mà các cuộc xung đột tuy nhỏ nhưng đẫm máu vẫn còn, đó là chưa nói đến một bộ phận khá lớn dân cư thế giới vẫn tiếp tục sống trong nghèo đói nếu không phải là hàng trăm năm thì cũng trong nhiều thế hệ.
3. Trước một thế giới không ngừng biến động thì tư duy con người phải luôn luôn đổi mới. Đó là một yêu cầu khách quan mà ai cũng biết. Điều đáng nói ở đây là sự biến đổi của thế giới trước thềm của thiên niên kỷ thứ III là hoàn toàn khác về chất so với những biến đổi đã diễn ra trong 2000 năm qua. Không những bản thân khoa học công nghệ đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp mà ngày nay người máy đã có thể đánh bại kiện tướng cờ thế giới, người ta đã có thể dùng công nghệ nhân bản vô tính để tái tạo ra những sinh vật giống nguyên bản, kể cả người... thì sự đổi mới không thể chỉ tiếp tục tiến hành theo lối cũ mà phải có những bước nhảy vọt có tính chất cách mạng. Mặt khác trong quan hệ quốc tế cũng diễn ra một bước ngoặt lớn chưa hề có trong 2000 năm qua, đó là việc chấm dứt chiến tranh lạnh và chiến tranh nóng với quy mô toàn thế giới và nhân loại đã bước sang một thời kỳ mới là vừa đấu tranh vừa hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình mà hạt nhân là đấu tranh thúc đẩy hợp tác để cùng tồn tại và phát triển chứ không phải để huỷ diệt lẫn nhau. Do đó trong việc đổi mới tư duy đối ngoại thì trước hết cần gạt bỏ tư duy chiến tranh lạnh và sau đó là phải đổi mới tư duy về thế giới hiện đại và chính sách đối ngoại. Chỉ làm một trong hai điều này là chưa đủ. Thực tế chiến tranh lạnh đã chấm dứt cách đây 7 năm nhưng một số nước, nhất là các nước lớn vẫn nhìn thế giới bằng tư duy chiến tranh lạnh. Phê phán chính sách ngoại giao của chính quyền Clinton, Giám đốc khoa nghiên cứu chính sách đối ngoại của Viện Brookings ở Washington đã viết rằng : "Trong nhiệm kỳ 2 của mình, vị Tổng thống đầu tiên của thời kỳ sau chiến tranh lạnh đã tập trung phần lớn cố gắng của mình về chính sách đối ngoại vào NATO, một sản phẩm của chiến tranh lạnh, không những thế, chính sách của Mỹ đối với một số nước hiện nay vẫn còn sặc mùi chiến tranh lạnh và chính sách ngoại giao của Clinton đã bị lạc hướng". Chừng nào người ta chưa gạt bỏ tư duy chiến tranh lạnh khi dòng chảy chung của thế giới đã chuyển sang hướng hoà bình, hợp tác và phát triển thì tất nhiên người ta còn tự cô lập mình, song trật tự thế giới mới cũng chưa thể ổn định. Mặt khác, nếu chỉ rũ bỏ những tư duy chiến tranh lạnh mà không đổi mới nhận thức về những phát triển mới của quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại do thế giới đã đổi thay thì cũng chưa đủ và sẽ mất tính chủ động trong sinh hoạt quốc tế. Cần phải có những nhận thức mới về chính sách đối ngoại và ranh giới giữa chính sách đối ngoại và chính sách đối nội. Sẽ là quá cường điệu khi nói rằng sẽ không còn chính sách đối ngoại nữa trong một thế giới của xu thế toàn cầu hoá nhưng thực tế ngày càng khó phân biệt ranh giới giữa 2 chính sách này. Có chính sách đối nội nào khi được vạch ra mà không tính đến những phản ứng bên ngoài và ngược lại.
Vấn đề chủ quyền tuyệt đối của một quốc gia có còn nữa hay không ? Chính phủ Algerie chịu để cho hàng vạn dân thường bị thảm sát mà không cho bên ngoài can thiệp vào vì sợ chủ quyền quốc gia bị vi phạm. Trong lúc đó các chính phủ Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc v.v... đã phải hy sinh một số mặt nào đó của chủ quyền quốc gia, nghĩa là phải thực hiện những biện pháp thắt lưng buộc bụng mà Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) áp đặt để cứu vãn nền kinh tế tài chính đang bị sụp đổ, ở đây cần quan niệm như thế nào cho đúng ?
Vấn đề đổi mới thứ hai mà nhiều nước đang làm để chuẩn bị cho ngoại giao có thể ứng phó với tình hình mới là đổi mới về nội dung và hình thức hoạt động. Ngoài quan hệ chính trị tay đôi là xuất phát điểm của việc hình thành nền ngoại giao, ngày nay một cơ quan đại diện ở nước ngoài không làm công tác hữu nghị chung chung mà chủ yếu là làm kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và nhiều công tác khác vốn không nằm dưới sự quản lý của ngành ngoại giao. Đại diện ở một nước không những chỉ làm việc với địa phương mà còn làm việc với nhiều tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ (NGO) đóng ở nước đó hoặc ở khu vực đó. Ngoại giao song phương hoạt động song song với ngoại giao đa phương và ở những địa bàn nhất định đôi khi ngoại giao đa phương nổi trội hơn. Để đáp ứng nhiệm vụ đó đòi hỏi cán bộ ngoại giao phải hiểu biết rộng trên nhiều lĩnh vực. Do đó, nhiều nước đã mở rộng các nội dung giảng dạy ở các trường đào tạo cán bộ ngoại giao. Ngoài những môn dạy truyền thống như ngoại ngữ, lịch sử quan hệ quốc tế, các nghiệp vụ ngoại giao, người ta đã buộc sinh viên phải học thêm các môn như hoạt động của các đường dây buôn ma tuý quốc tế, vấn đề di dân, vấn đề thị trường công nghệ môi sinh v.v... Có nước tuyển chuyên gia các ngành khác vào Bộ Ngoại giao. Trung bình một sứ quán Mỹ ở nước ngoài có khoảng 63% cán bộ không thuộc ngành ngoại giao. Về tổ chức có nước sát nhập một số bộ khác như ngoại thương, tuyên truyền đối ngoại, viện trợ quốc tế vào Bộ Ngoại giao. Có nước lập hẳn thêm một chức thứ trưởng phụ trách các vấn đề toàn cầu (Mỹ). Mặt khác sự phối hợp liên ngành là hết sức cần thiết mà hầu như nước nào cũng làm trước hết là giữa ngoại giao, kinh tế, quốc phòng và luật pháp.
Một hình thức hoạt động ngoại giao mới rất có hiệu quả và nhanh chóng là ngoại giao nguyên thủ, tức là các cuộc gặp không chính thức thường xuyên giữa các nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu Chính phủ các nước nhân các cuộc Hội nghị quốc tế. Việc sắp xếp các cuộc gặp gỡ không chính thức, hiện nay cũng đơn giản và gọn nhẹ hơn. Là đại diện cho nguyên thủ quốc gia, vai trò của Đại sứ cũng rất quan trọng. Người ta thường cử những người có trình độ hiểu biết rộng, có đủ tư thế để thay mặt nguyên thủ quốc gia nước mình tiến hành đối thoại với nguyên thủ quốc gia và các nhà lãnh đạo của nước sở tại.
Phải chăng đây cũng là những kinh nghiệm giúp nền kinh ngoại giao nước ta chuẩn bị cho thế kỷ 21./.