

Hợp tác trên biển và an ninh trên biển khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Luận Thùy Dương.
Cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh và tình trạng đối đầu giữa hai lực lượng hải quân lớn nhất trên thế giới là Liên Xô và Mỹ, môi trường an ninh trên biển ở khu vực châu A' - Thái Bình Dương (CA-TBD) đã thay đổi. Trong xu thế hoà hoãn của quan hệ quốc tế ở khu vực sau chiến tranh lạnh, các nước trong khu vực đã thúc đẩy hợp tác khai thác và phát triển chung, hợp tác quản lý biển chung và hợp tác bảo vệ các vùng biển chung. Các quá trình này đã làm cho môi trường an ninh trên biển khu vực dường như an bình hơn. Tuy nhiên, mối lo ngại đối với tình hình an ninh trên biển châu A' - Thái Bình Dương vẫn còn.
Mối lo ngại đối với tình hình an ninh trên biển khu vực xuất phát từ những thực tế sau:
1. Các hoạt động tội phạm trên biển ngày càng đa dạng và nghiêm trọng;
2. Việc khai thác và tiến hành các hoạt động trên biển diễn ra ở mức độ ngày càng cao nhưng chưa có cơ chế quản lý;
3. Các tranh chấp và va chạm ngày càng tăng nhưng chưa có cơ chế giải quyết;
4. Môi trường biển bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng.
Tình hình an ninh và hợp tác trên biển châu A' - Thái Bình Dương:
Tình hình biển TBD đang ngày càng trở nên phức tạp và việc quản lý biển cũng đang ngày càng khó khăn hơn do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là do nhu cầu sử dụng biển tăng lên. Không chỉ các nước ven biển mà cả các nước lục địa cũng đang hướng chiến lược phát triển ra biển. Mặt khác, đối với các nước châu á đang phát triển thì việc hướng ra biển còn là sách lược nhằm giãn số dân đang tăng nhanh từ đất liền ra biển và sử dụng nguồn tài nguyên biển thay thế dần cho nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền đang bị kiệt quệ dần do khai thác bừa bãi. Thứ hai, do tình trạng chưa xác định được rõ ràng khu vực ảnh hưởng của các cường quốc nên cũng chưa xác định được mức độ dính líu của các cường quốc vào các tranh chấp ở các vùng biển khu vực. Thứ ba, do khái niệm chủ quyền trên biển của các quốc gia ven biển và các quốc gia lục địa có nhu cầu sử dụng biển chưa rõ ràng nên dễ dàng xảy ra các tranh chấp giữa các nước ven biển và các nước đi qua vùng biển. Thứ tư, do trong khi tình hình trên biển phức tạp như vậy thì các luật về biển và hợp tác về biển chưa thích ứng với sự thay đổi của tình hình.
Nhằm giải quyết tình hình mất ổn định trên biển và tăng khả năng quản lý biển CA-TBD, nhiều sáng kiến đã được các nước khu vực đưa ra như: thiết lập một cơ chế quản lý biển, ký các hiệp định hợp tác phát triển chung, xây dựng những khu vực biển an toàn, khu vực hợp tác phát triển chung, hoàn thiện Luật biển, phát triển hợp tác hải quân... Tuy nhiên các sáng kiến đều gặp những vấn đề phức tạp khiến tính hữu hiệu của chúng bị hạn chế.
Đề nghị thiết lập một cơ chế quản lý biển TBD đã được các nước khu vực đưa ra từ cuối năm 1998 tại một cuộc họp của Hội đồng Hợp tác An ninh CA-TBD (CSCAP), nhưng cơ chế này chưa thể thiết lập được do các nước khu vực chưa thống nhất được các mục tiêu và nguyên tắc cụ thể cho cơ chế đó.
Để xây dựng những khu vực biển an toàn và khu vực biển hợp tác phát triển chung, các nước trong khu vực đều hiểu rằng trước mắt cần tăng cường đối thoại và hợp tác để xây dựng lòng tin và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. Tuy nhiên cách tiếp cận của các nước trong khu vực lại rất khác nhau về các vấn đề này. Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh đối thoại và hợp tác song phương. Trong khi đó, Mỹ và các nước châu Âu nhấn mạnh đối thoại và hợp tác đa phương, cho rằng song phương chỉ là bước đi ban đầu. Còn hầu hết các nước châu á lại cho rằng phải tuỳ thuộc vào bản chất của từng vấn đề mà thúc đẩy đối thoại và hợp tác song phương hay đa phương.
Về khu vực hợp tác phát triển chung, một số khu vực đã hình thành trên thực tế, ví dụ "Khu vực hợp tác phát triển chung Hàn Quốc - Nhật Bản", "Khu vực hợp tác phát triển chung Việt Nam - Malaysia", "Khu vực hợp tác phát triển chung Australia - Indonesia". Điểm lợi không thể phủ nhận của các khu vực này là đã góp phần xây dựng lòng tin, giảm tranh chấp, và phát triển hợp tác kinh tế và chính trị giữa các nước tham gia hợp tác. Tuy nhiên, các khu vực này chưa được phát triển mạnh mẽ do chúng có những điểm hạn chế nhất định. Chẳng hạn nhiều khu vực sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của nước thứ ba nếu nước này cũng nằm trong khu vực nhưng không tham gia hợp tác phát triển chung (như trường hợp Đài Loan tại Khu vực hợp tác phát triển chung Hàn Quốc - Nhật Bản). Mặt khác, việc khai thác dầu và đánh bắt cá tại các khu vực này ít nhiều đều có ảnh hưởng đến môi trường sinh thái các vùng biển kế cận.
Về thực tiễn thực hiện Luật biển, các nước CA-TBD, cho đến nay đã ký khoảng 72 Công ước và Hiệp định đa phương về biển. Nhưng nhìn chung, việc phê chuẩn và ký các Công ước cũng như các Hiệp định này rất khác nhau giữa các nước trong khu vực. Thậm chí nhiều Công ước và Hiệp định quan trọng đã không được các nước thành viên CSCAP tham gia. Mỹ, Canada, Cộng hoà DCND Triều Tiên và Thái Lan đã không tham gia Công ước Quốc tế về Luật biển 1982. Mông Cổ và Philippin không tham gia Công ước Quốc tế về Tránh va chạm trên Biển 1972. Malaysia, Mông Cổ, Philippin, Singapore, Thái Lan và Việt Nam không tham gia Công ước Quốc tế về Vận chuyển An toàn trên Biển 1993...
Tại cuộc họp lần thứ sáu của Nhóm làm việc về Biển thuộc CSCAP vừa được tổ chức tháng 9/1999 tại Hà Nội, các đại biểu đã đưa ra một số lý do để giải thích tình trạng này như sau: thứ nhất, CSCAP chưa có một sự hướng dẫn cụ thể về tầm quan trọng cũng như sự cần thiết phải tham gia các Công ước và Hiệp định về biển vì an ninh chung của vùng biển khu vực. Thứ hai, nhiều Công ước và Hiệp định chưa cân bằng được quyền lợi của các đối tượng tham gia các Công ước và Hiêp định này, như quyền lợi của các nước ven biển và các nước có tàu đi trên vùng biển. Thứ ba, các Công ước và Hiệp định đa phương còn có nhiều "kẽ hở" - còn được gọi là "vùng xám" (grey area) trong luật. Thứ tư, các Công ước và Hiệp định đa phương còn chưa đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng như tranh chấp lãnh hải, khái niệm và yêu sách về vùng nước lịch sử...
Về hợp tác hải quân, nhận thức được tầm quan trọng của nó đối với việc duy trì trật tự trên biển và ngăn chặn xung đột trên biển, các nước trong khu vực đều đang thúc đẩy hợp tác này. Tuy nhiên việc thúc đẩy hợp tác này laị đang gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân có thể do: Thứ nhất, ngân sách của đa số các nước trong vùng rất hạn hẹp. Thứ hai, trình độ phát triển của các lực lượng hải quân trong vùng khác nhau. Thứ ba, nhận thức về mối đe doạ trên biển cũng khác nhau giữa các nước trong vùng. Nam Triều Tiên lo sợ mối đe doạ từ Bắc Triều Tiên, nhưng Nhật Bản lại lo ngại mối đe doạ trên biển bắt đầu từ Nga. Thứ tư, các nước còn nghi ngại về khả năng cũng như ý đồ của nhau. Thứ năm, nhiều nước trong vùng không muốn công khai hoá lực lượng hải quân của mình. Những nước có lực lượng hải quân yếu thì không muốn bộc lộ điểm yếu; những nước có lực lượng hải quân hùng mạnh thì lại không muốn tham gia các hoạt động hợp tác đa phương vì không muốn chia sẻ kỹ thuật hiện đại.
Nhìn chung, hợp tác trên biển đang gặp rất nhiều khó khăn, do các nước còn nghi ngờ nhau, và còn đặt lợi ích an ninh quốc gia lên trên lợi ích an ninh chung của cả khu vực biển CA-TBD. Song triển vọng của lĩnh vực hợp tác này lại lớn, do hợp tác biển sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các nước trong khu vực, đó là môi trường biển hoà bình, ổn định và cùng khai thác.
Triển vọng hợp tác và an ninh trên biển CA-TBD:
Hợp tác trên biển ở khu vực CA-TBD đang ngày càng được coi trọng. ARF đã bắt đầu đưa hợp tác hải quân và hợp tác hàng hải vào các biện pháp xây dựng lòng tin. CSCAP đã coi hai lĩnh vực hợp tác này là hai mấu chốt nhằm gìn giữ hoà bình và an ninh trên biển CA-TBD. Điểm thuận lợi là các Công ước quốc tế về biển và các Hiệp định hợp tác về biển được ký giữa các nước khu vực đều tạo cơ sở cho việc phát triển hợp tác hải quân và hợp tác hàng hải.
Hợp tác hải quân:
Trên thực tế đã diễn ra những hợp tác hải quân song phương và hợp tác hải quân đa phương như các cuộc tập trận chung lực lượng hải quân đa quốc gia (cuộc tập trận chung RIMPAC bao gồm hải quân U'c, Canada, Nhật Bản và Nam Triều Tiên được tổ chức hai năm một lần); đã có các diễn đàn đối thoại đa phương về hải quân như diễn đàn Hải Quân Tây- Thái Bình Dương (WPNS) bao gồm một số nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Nam Triều Tiên, U'c, New Zealand và Papua New Guinea được tổ chức hai năm một lần, bắt đầu từ năm 1988...
Tuy nhiên, hợp tác hải quân đang gặp khó khăn lớn do việc triển khai TMD (Theater Missile Defence) gây ra. Mỹ và các đồng minh của Mỹ là Nhật Bản, U'c, Tây Âu và Hàn Quốc sẽ triển khai TMD trong khu vực. Họ cho rằng TMD có nhiều điểm lợi như chi phí cho việc triển khai TMD ít hơn việc hiện đại hoá lực lượng không quân; việc sản xuất và kiểm tra kỹ thuật tên lửa đạn đạo rất gọn nhẹ, có thể tiến hành dưới mặt đất; tên lửa đạn đạo có tính chính xác cao, có thể tấn công các mục tiêu ở rất xa với thời gian rất ngắn, có thể tấn công các mục tiêu di động, có thể làm vô hiệu hoá được hệ thống báo động bằng ra-đa; TMD kiểm soát hoàn toàn được khoảng không... Mặt khác, việc triển khai TMD đòi hỏi các nước tham gia phải có sự cam kết rất chặt chẽ, phải phối hợp chính sách, phải trao đôỉ thông tin về TMD, phải triển khai TMD trên cả ba lực lượng (trên bộ, trên không và trên biển), do đó sẽ tăng cường sự hợp tác quân sự về mọi mặt, bao gồm cả hợp tác hải quân. Tuy nhiên, hầu hết các nước trong khu vực lại không muốn TMD được triển khai. Có thể giải thích phản ứng của các nước này dựa trên những mối quan tâm sau: thứ nhất, TMD sẽ trực tiếp đe doạ an ninh quốc gia do TMD có thể dễ dàng làm cho một thành phố đông dân, một trung tâm kinh tế hay chính trị của một nước nằm trong tầm của TMD "bị TMD bắt làm con tin". Thứ hai, việc triển khai TMD sẽ làm ảnh hưởng đến những cố gắng xây dựng khu vực phi vũ khí hạt nhân. Thứ ba, do trình độ phát triển lực lượng hải quân giữa các nước trong vùng khác nhau lại đi kèm với việc triển khai TMD khác nhau sẽ thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, đe doạ an ninh toàn khu vực. Thứ tư, có ý kiến cho rằng hệ thống TMD là sáng kiến của Mỹ, do đó xây dựng và phát triển hệ thống TMD là nhằm thực hiện ý đồ bá quyền của Mỹ.
Do vậy, hợp tác hải quân trong vùng không nên đi quá nhanh và quá xa. Hợp tác hải quân phải được bắt đầu bằng những biện pháp thận trọng, từng bước một, bao gồm: tiếp xúc hải quân - hải quân, thăm cảng, thăm hạm đội; phối hợp cứu hộ; trao đổi thuỷ thủ; trao đổi sách trắng, trao đổi thông tin về hải quân, thông báo trước về các cuộc tập trận và các hoạt động quân sự trên biển, treo cờ trên các tàu nhằm minh bạch các hoạt động hải quân; tiến hành đào tạo chung; tiến hành các cuộc tập trận chung... Mặt khác, TMD là quá mới mẻ và vì tác động của nó rất nghiêm trọng nên cần phải được nghiên cứu kỹ và thận trọng trong việc triển khai.
Hợp tác hàng hải:
Hợp tác hàng hải được đẩy mạnh nhờ vai trò của hai cơ quan quan trọng là Tổ chức Hàng hải Quốc tế và Cục Hàng hải Quốc tế. Hợp tác hàng hải đã diễn ra giữa các nước trong khu vực trên các lĩnh vực chống các tội phạm trên biển; phối hợp cứu hộ; bảo vệ các tàu chở hàng (luôn bao gồm ít nhất từ hai đến ba lực lượng hải quân: hải quân nước xuất hàng, nước nhập hàng, và đôi khi là nước có tàu chở hàng); hoàn thiện hệ thống luật biển và hàng hải; và thúc đẩy việc quản lý biển.
Theo đánh giá của Cục Hàng hải Quốc tế thì tình hình tội phạm trên biển khu vực CA-TBD đang gia tăng nhanh nhất. Nguyên nhân có thể do: 1/ nhiều nước ven biển có dân số cao, tỉ lệ thất nghiệp cao, mức thu nhập lại thấp đã làm tăng tỉ lệ phạm tội trên biển; 2/ nhận thức về tác hại nghiêm trọng của các vấn đề trên còn kém; 3/ các lực lượng chống tội phạm trên biển được trang bị kém hơn các lực lượng phạm tội; 4/ các đội thuỷ thủ thiếu khả năng phòng vệ; và 5/ thiếu sự hợp tác thích hợp giữa các nước trong khu vực.
Để giảm tình hình tội phạm trên biển CA-TBD, các nước trong khu vực cần phải phát triển cơ chế trao đổi thông tin và cơ chế hợp tác giữa các lực lượng cảnh sát hàng hải trong khu vực. Cần phải thiết lập lực lượng phản ứng đa quốc gia chống tội phạm trên biển nằm ngay trong lực lượng cảnh sát hàng hải của các nước trong khu vực. Bên cạnh đó các nước trong khu vực, đặc biệt là những nước giàu phải có kế hoạch hỗ trợ kỹ thuật hoặc tài chính cho các lực lượng chống tội phạm trên biển của các nước nghèo.
Ngoài ra, để giảm tình hình tội phạm trên biển, các nước khu vực CA-TBD không thể chỉ quan tâm đến vấn đề thúc đẩy hợp tác giữa các lực lượng cảnh sát hàng hải, mà quan trọng hơn cả là phải đưa luật vào các hoạt động thực tiễn của con người trên biển và quản lý biển bằng luật.
Về mặt pháp lý, trước hết phải xác định lại các loại tội phạm trên biển. Ngoài tội cướp biển, buôn bán ma tuý, có ý kiến cho rằng còn có các tội khác mà luật biển cần đề cập đến đó là: tội khủng bố trên biển, tội buôn lậu hàng hoá trên biển... Việc bắt giữ các tàu đánh cá bởi các quan chức thi hành luật của một nước, rồi ép buộc các tàu nộp tiền lệ phí cũng phải được coi là tội cướp biển. Việc giúp đỡ những người nhập cư trái phép bằng đường biển cũng phải được coi là tội phạm trên biển. Bên cạnh đó, để bảo vệ nguồn tài nguyên biển và vì vấn đề an ninh môi trường, việc dùng chất độc hoặc chất nổ để đánh bắt cá, việc để tai nạn xảy ra trên biển với các tàu chở các chất độc hại và phóng xạ, và việc đổ các chất thải độc hại xuống biển cũng phải được coi là tội phạm trên biển.
Nhằm đạt được mục tiêu là sự tham gia, hiểu và thi hành các Công ước và Hiệp định đa phương về biển thống nhất giữa các nước trong khu vực biển CA-TBD, cần phải làm rõ được các vấn đề sau trong các Công ước và Hiệp định về biển: 1/ quyền của nước ven biển đối với các Vùng nước Lãnh hải; 2/ quyền của các nước ven biển đối với các Vùng nước Hải đảo; 3/ quyền của nước ven biển đối với tàu nước ngoài đi qua các Hành lang Biển Quốc tế và Đường biển Hải đảo; 4/ quyền của các loại tàu khác nhau (tàu đánh cá, tàu chở hàng, tàu chiến) đi qua các vùng biển khác nhau; và 5/ quyền của các tàu đánh cá nước ngoài tại các Eo biển Quốc tế, Vùng nước Hải đảo và Đường biển Hải đảo.
Vì an ninh môi trường biển, trong hợp tác hàng hải, các nước ở khu vực biển CA-TBD còn cần phải chú trọng đến việc hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường biển. Các nước khu vực cần tìm kiếm một chiến lược chung nhằm vừa thúc đẩy được việc khai thác tài nguyên biển cho sản xuất và tiêu dùng vừa thúc đẩy được việc bảo vệ môi trường biển, duy trì sự cân bằng sinh thái biển. Các nước khu vực cần nâng cao hợp tác hàng hải qua việc tạo ra các trung tâm kiểm soát mặt biển, lập ra các đường dây nóng nhằm tránh những đụng độ và tai nạn trên biển, xây dựng các trung tâm quản lý nguồn tài nguyên, các hệ thống kiểm soát ô nhiễm biển...
Những vấn đề đặt ra cho triển vọng phát triển hợp tác hải quân và hợp tác hàng hải ở khu vực biển CA-TBD là không đơn giản. Tuy nhiên các nước trong khu vực cần phải nhận thức rõ được mối liên hệ mật thiết của hợp tác hải quân và hợp tác hàng hải đối với an ninh trên biển, để giải quyết được các vấn đề đặt ra và thúc đẩy hai lĩnh vực hợp tác này phát triển. Hợp tác hải quân sẽ góp phần giảm các xung đột trên biển và thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin trong diễn đàn ARF. Hợp tác hàng hải sẽ góp phần giảm các tội phạm trên biển, tăng cường quản lý biển, thúc đẩy khai thác chung đồng thời bảo vệ môi trường chung. Nhờ đó, an ninh kinh tế trên biển, an ninh môi trường ở biển và an ninh quân sự từ biển của các quốc gia khu vực cũng như của toàn khu vực sẽ được bảo đảm./.