Số 36 – Quan hệ Ấn – Nga và nét mới trong chính sách của Nga với Nam Á

Quan hệ Ấn – Nga và nét mới trong chính sách của Nga với Nam Á

Tác giả: Lê Viết Duyên.

Tổng thống Nga Vladimir Putin thăm Â’n Độ từ 2 – 6/10/2000. Đồng thời trong thời gian này, Tổng thống Putin cũng nhận lời mời thăm Pakistan và nếu được thực hiện, đây sẽ là chuyến thăm đầu tiên của một vị đứng đầu nhà nước ở Moscow đến nước này kể từ thời Liên bang Xô viết đến nay. Các động thái mới này đã dấy lên dư luận cho rằng Nga đã bắt đầu một giai đoạn mới trong chính sách của mình với khu vực Nam A’ và bắt đầu từ bỏ sự can dự “nhất biên đảo” trong quan hệ với Â’n Độ và Pakistan.

Trọng tâm của mối quan tâm địa chính trị của Nga ở Nam A’ chủ yếu là Â’n Độ và Pakistan. Các nước Nam A’ khác thực ra không đóng vai trò quan trọng trong tính toán địa chính trị của Nga. Quan hệ của Nga với các nước này chủ yếu dựa trên tính toán thương mại đơn thuần. Vì vậy bài này sẽ đi sâu phân tích chính sách và quan hệ của Nga với hai nước chủ yếu trong khu vực này là Â’n Độ và Pakistan.

Lịch sử quan hệ của Nga với Nam A’ thể hiện những thăng trầm của tiến trình lịch sử và ảnh hưởng của địa chính trị. Tuy vậy những lợi ích chiến lược vẫn còn tiếp tục gắn kết Nga với Â’n Độ và khu vực này. Khi Â’n Độ và Pakistan giành được độc lập cũng là khi bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh với thế giới hai cực đứng đầu là hai siêu cường Mỹ và Liên bang Xô viết (Liên Xô). Trong môi trường đó, Â’n Độ quyết định duy trì thái độ không liên kết trong quan hệ quốc tế và cố gắng phát triển quan hệ thân thiện với cả hai phe.

Quan hệ Â’n – Xô phát triển rõ nét bắt đầu từ những năm 1950, khi Â’n Độ và Liên Xô nhận thấy tầm quan trọng của mỗi nước trong những tính toán cân bằng lợi ích toàn cầu (của Liên Xô) và nhu cầu về an ninh (của Â’n Độ) và trở thành nền tảng cho quan hệ hai nước.

Trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo thế giới giữa hai siêu cường và xung đột “Đông – Tây”, chính sách của Liên Xô là bảo đảm an ninh; tăng cường ảnh hưởng; cạnh tranh với hệ thống Tư bản chủ nghĩa trên các phương diện kinh tế, chính trị và hệ tư tưởng; thúc đẩy các phong trào giải phóng dân tộc và không liên kết. Mục tiêu của Liên Xô trong chính sách với Nam A’ là: làm giảm ảnh hưởng của Phương Tây; kiềm chế vai trò Trung Quốc; hiện diện và gây ảnh hưởng trong khu vực để có được vai trò là cường quốc trên thế giới và cường quốc Châu A’. Với mục tiêu đó, và trong tình hình Mỹ xây dựng các khối quân sự CENTO và SEATO vây quanh Liên Xô trong ý đồ kiềm chế Liên Xô và phong trào cộng sản trên thế giới, Liên Xô đã phát triển quan hệ với Â’n Độ, một nước lớn của thế giới thứ ba có vai trò quan trọng trong khu vực và phong trào không liên kết. Liên Xô đã tỏ thái độ ủng hộ Â’n Độ một cách rõ ràng trong vấn đề Kashmir để làm nền tảng cho phát triển quan hệ giữa hai nước.

Mối lo ngại lớn nhất của Â’n Độ là bảo đảm an ninh cho phát triển. Pakistan trở thành đồng minh của Mỹ, tham gia các liên minh quân sự của Mỹ từ năm 1954. Mỹ viện trợ một khối lượng lớn vũ khí, trang thiết bị quân sự cho Pakistan trong bối cảnh Â’n Độ và Pakistan luôn trong tình trạng thù địch với vấn đề nóng bỏng ở Kashmir kể từ ngày độc lập 8/1947 là nguy cơ cho an ninh của Â’n Độ. Vai trò ngày càng lớn của Trung Quốc trong khu vực cùng xu hướng bành trướng và bất đồng về biên giới lãnh thổ luôn làm Â’n Độ lo ngại. Trong khi đó, thất bại trong việc thu hút sự hỗ trợ của Mỹ trong xây dựng nền công nghiệp và kinh tế làm cho Â’n Độ nhận thấy quan hệ với Liên Xô là cực kỳ quan trọng trong việc đối phó với Pakistan và Trung Quốc, riêng rẽ hay phối hợp để bảo đảm an ninh của mình cũng như phát triển kinh tế.

Trong cuộc xung đột biên giới Trung – Â’n 10/ 1962, với lo lắng hành động quân sự của Trung Quốc có thể đẩy Â’n Độ đi xa hơn với Mỹ, cùng mâu thuẫn ngày càng tăng với Trung Quốc, Liên Xô đã tỏ thái độ phê phán Trung Quốc và quyết định tăng cường hợp tác, viện trợ thêm vũ khí và trang thiết bị quân sự cho Â’n Độ, bất kể sự phản đối của Trung Quốc. Liên Xô trở thành một nguồn cung cấp chính và quan trọng cho các nhu cầu quốc phòng của Â’n Độ.

Chiến tranh Â’n Độ – Pakistan năm 1965 được Liên Xô cho là một cơ hội tốt để đưa cả Â’n Độ và Pakistan vào vòng ảnh hưởng của mình và đề nghị tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh Â’n Độ – Pakistan hoà giải chấm dứt quan hệ căng thẳng và thù địch giữa hai nước tại Tasken. Đây cũng là một bước đi khôn ngoan nhằm chứng tỏ mối quan tâm và ảnh hưởng ngày càng tăng của Liên Xô ở Nam A’. Hiệp ước Tasken 1/1966 được ký kết do Â’n Độ không muốn đánh mất thiện chí của Liên Xô dành cho mình ở LHQ, và Pakistan không muốn bỏ lỡ cơ hội để vô hiệu hoá thái độ của Liên Xô với vấn đề Kashmir và các vấn đề khác trong quan hệ Â’n Độ – Pakistan. Liên Xô bắt đầu những bước đi xa hơn nhằm kéo Pakistan khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ. Với tính toán lợi ích toàn cầu của mình, Liên Xô quyết định chuyển từ chính sách “ủng hộ hoàn toàn quan hệ đặc biệt với Â’n Độ” sang chính sách cân bằng hơn bao gồm tiếp tục ủng hộ lợi ích của Liên Xô trong quan hệ với Â’n Độ và thiết lập các mối quan hệ với Pakistan. Thủ tướng Liên Xô Kosygin đến thăm Pakistan 4/1968 vài ngày sau khi Pakistan ra lệnh đóng cửa căn cứ quân sự của Mỹ ở Peshawar. Tháng 7/1968, Liên Xô tuyên bố cung cấp vũ khí cho Pakistan, với bảo đảm với Â’n Độ rằng không có gì thay đổi trong quan hệ hợp tác Xô – Â’n.

Tuy nhiên nỗ lực lôi kéo Pakistan đã không đạt kết quả do Pakistan nhận thấy Liên Xô vẫn duy trì quan hệ thân cận với Â’n Độ. Pakistan tiếp tục chính sách thân Trung Quốc và Mỹ. Thủ tướng Liên Xô Kosygin thừa nhận rằng Pakistan đã đi quá xa trong cái lưới của Trung Quốc và Mỹ. Liên Xô quay lại với nhận định cho rằng quan hệ với Â’n Độ có vai trò quan trọng hơn.

Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác Xô – Â’n ký ngày 9/8/1971 đã góp phần cho thắng lợi của Â’n Độ trong cuộc chiến tranh Â’n Độ – Pakistan 12/ 1971 với kết quả là sự ra đời của Bangladesh và tạo cho Liên Xô cơ hội tăng cường ảnh hưởng của mình với Â’n Độ và kiềm chế Trung Quốc trong khu vực. Sự hoà giải Trung – Mỹ với vai trò trung gian của Pakistan hình thành trục Washington – Islamabat – Bắc Kinh nhằm kiềm chế Liên Xô và đe doạ lợi ích khiến Liên Xô và Â’n Độ thúc đẩy tăng cường hợp tác nhiều mặt nhằm bảo vệ lợi ích của mình trên cơ sở Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác trong khoảng thời gian 1971 – 1991.

Hiệp ước này được ký lại vào 8/1991, nhưng sự tan rã của Liên bang Xô viết hình thành nước Nga và Cộng đồng 15 quốc gia độc lập đã làm Hiệp ước mất hiệu lực. Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và chấm dứt chiến tranh lạnh được Francis Fukuyama nhìn nhận như là sự kết thúc của lịch sử và mở đường cho sự chi phối tuyệt đối của Mỹ và thế giới phương Tây trong nền chính trị thế giới.

Ngay sau khi độc lập, nước Nga mới đã theo đuổi một chính sách thân Mỹ và Phương Tây. Moscow hy vọng sẽ đạt được mục tiêu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tự do hoà nhập với nền kinh tế thế giới cùng hệ thống chính trị dân chủ tự do với sự hỗ trợ chủ yếu từ Phương Tây, với những kế hoạch tương tự như “Kế hoạch Marshal”. Với chính sách đó, Â’n Độ và khu vực Nam A’ nằm ở vị trí thứ yếu trong chính sách của Nga. Khác với Liên Xô cũ có nhu cầu “quan hệ đặc biệt” với Â’n Độ trong chiến lược địa chính trị nhằm làm đối trọng với Mỹ và Trung Quốc, và coi Â’n Độ là trụ cột của các nỗ lực chính trị, ngoại giao và kinh tế ở Nam A’, nước Nga mới không xem Â’n Độ như là một đồng minh chiến lược. Ngoài Phương Tây, các nước có chung biên giới là yếu tố chi phối các chính sách của Nga. Sự ra đời của các nước cộng hoà Trung A’ làm biên giới giữa Nga và Â’n Độ lại càng lùi xa và khoảng cách trong quan hệ cũng tăng lên. Trong tài liệu “Nội dung Chính sách đối ngoại của Nga” do Bộ Ngoại giao Nga xuất bản 1/1993, Â’n Độ đứng vị trí thứ bảy trong số 10 trọng tâm đối ngoại của Nga, chỉ trên các khu vực Cận Đông, Châu Phi và Mỹ Latinh.

Sự bảo trợ về an ninh của Liên Xô cũ không đủ bảo đảm tạo cho Â’n Độ an toàn cho phát triển kinh tế. Sự sụp đổ của Liên Xô đã làm giảm trọng lượng và ảnh hưởng của Moscow trong chính trị thế giới. Â’n Độ điều chỉnh chính sách, tách khỏi xu hướng thân Liên Xô trước đây. Chính phủ Â’n Độ xúc tiến quá trình cải cách kinh tế từ giữa năm 1991, với chính sách tự do hoá nền kinh tế và bãi bỏ kiểm soát, mở cửa cho đầu tư nước ngoài với sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế. Â’n Độ cũng tiến lại gần hơn với Mỹ và tỏ quan tâm tăng cường quan hệ với Trung Quốc. Thay vì mơ tưởng đến một liên minh duy nhất, Â’n Độ nỗ lực phát triển quan hệ với tất cả các trung tâm quyền lực. Chiến lược lớn của Â’n Độ là gắn kết và không để bị lôi kéo vào các liên minh chống đối nhau. Thay vào đó là mở rộng hợp tác song phương bền vững cùng lúc với cả Mỹ, Trung Quốc và Nga trên cơ sở từng vấn đề và tuỳ lợi ích song trùng của hai bên.

Tuy nhiên, dù có những điều chỉnh chính sách, cả Â’n Độ và Nga không thể bỏ qua toàn bộ những yếu tố địa chính trị cơ bản vốn đã đặt nền móng cho quan hệ hữu nghị liên tục giữa hai nước trong nhiều thập kỷ. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Nga và Â’n Độ vẫn có những song trùng về lợi ích chiến lược lâu dài.

Nga và Â’n Độ cùng quan tâm đến hình thái thế giới đa cực mà trong đó các yếu tố cấu thành có thể cân bằng ảnh hưởng lẫn nhau. Â’n Độ và Nga có nhiều vấn đề chung cho hợp tác. Cả hai nước phải đối phó với sự gia tăng ảnh hưởng của các lực lượng Hồi giáo cực đoan ở Tây A’ và Trung A’. Nga và Â’n Độ cùng chia xẻ quan điểm về cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế, bạo lực qua biên giới và các hoạt động ma tuý, ra Tuyên bố Moscow năm 1994, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm đặc biệt của các quốc gia đa sắc tộc với số phận của hàng trăm triệu con người với “các nguyên tắc tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và sự thống nhất đất nước là nhân tố chính cho sự tồn tại của các quốc gia đa sắc tộc”. Â’n Độ luôn nhận được sự ủng hộ nhất quán trong vấn đề Jammu và Kashmir từ phía Nga như trong lập trường của Nga hoàn toàn ủng hộ lập trường của Â’n Độ trong xung đột Kargil 1998. Â’n Độ đã nhiều lần phản đối việc mở rộng NATO sang hướng đông, cùng chung quan điểm với Nga trong vấn đề Kosovo. Nga cũng là nước thành viên chính thức của HĐBA LHQ đầu tiên ủng hộ Â’n Độ tham gia vào cơ quan này. Gần đây nhất, Tổng thống Nga Putin tuyên bố với báo chí ngày 1/10/2000 rằng Â’n Độ là “ứng cử viên thích hợp” cho ghế thành viên chính thức của HĐBA LHQ.

Nhận ra mục đích của Phương Tây là nhằm làm Nga suy yếu, cùng một số vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh của mình, như việc mở rộng NATO sang phía đông… Nga đứng trước yêu cầu khôi phục lại vị thế một cường quốc độc lập trên thế giới và tái khẳng định vị trí một cường quốc A’ – Âu, với những lợi ích địa chính trị trực tiếp ở cả hai Châu lục. Nga không thể đạt được điều đó nếu không có quan hệ chặt chẽ và sự ủng hộ của các nước lớn Châu A’, đặc biệt là Â’n Độ và Trung Quốc làm đối trọng với áp lực của Mỹ và Phương Tây trong thế giới một cực. Nga đã cải thiện được quan hệ với Trung Quốc. Hai nước ký hiệp ước giải quyết an ninh biên giới và phát triển quan hệ đối tác Nga – Trung. Với Mỹ, mặc dù tuyên bố phản đối Mỹ một cách mạnh mẽ, chính sách thực tế của Nga lại được điều chỉnh phù hợp để đạt thoả hiệp và gắn kết xây dựng với Mỹ. Mỹ và Trung Quốc vẫn tiếp tục là đồng minh của Pakistan và có ảnh hưởng ngày càng tăng trong việc giải quyết các vấn đề trong khu vực. Đó là những yếu tố quyết định chính sách của Nga với Â’n Độ và Nam A’.

Dù Â’n Độ một lần nữa lại chiếm vị trí quan trọng đối với Nga, Nga không muốn chính sách của mình là “ủng hộ Â’n Độ hoàn toàn” mà nhân tố chủ yếu trong quan hệ là thực tế và linh hoạt. Điều đó thể hiện rõ qua các bước đi của Nga trong quan hệ với Pakistan. Tình hình địa chính trị thay đổi và sự tan rã của Liên bang Xô viết đã khiến Pakistan tỏ ra quan trọng hơn với Nga. Nằm gần các nước cộng hoà Trung A’ mới độc lập và ngay cửa ngõ của Afganistan, Pakistan ở vị trí có ảnh hưởng đến tình hình ở khu vực này. Lo ngại trước ảnh hưởng của “các Nhân tố Hồi giáo chủ yếu” trong khu vực, gồm Pakistan, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, Phó Tổng thống Nga, Alexander Rutskoi thăm Pakistan tháng 12/1991. Quan hệ này ấm lên với việc tổ chức hội nghị quốc tế về quan hệ của Pakistan với cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) tại Moscow tháng 4/1992. Việc Mỹ ngừng cung cấp vũ khí cho Pakistan vào năm 1990 cũng khiến Pakistan cần tìm kiếm các đồng minh và nguồn cung cấp thiết bị quân sự mới và cố gắng xích lại gần với Nga. Trong chuyến thăm tới Â’n Độ 1/ 1993, cựu Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã công khai cam kết sẽ không cung cấp hỗ trợ về kỹ thuật quân sự cho Pakistan, song khẳng định Nga sẽ duy trì một số quan hệ với Pakistan.

Do duy trì được sự phát triển kinh tế qua các chương trình cải cách (Â’n Độ hiện được đánh giá là nền kinh tế đứng thứ tư trên thế giới tính theo sức mua ngang bằng), ổn định chính trị nội bộ và linh hoạt trong đường lối đối ngoại, Â’n Độ đã nổi lên như một nhân tố quan trọng trong chính trị thế giới và được các bên lôi kéo, tranh thủ. Â’n Độ và Mỹ tăng cường quan hệ “đối tác” trên các lĩnh vực kinh tế, công nghệ thông tin, chống khủng bố quốc tế. Â’n Độ muốn tìm kiếm sự ủng hộ tối đa từ phía Mỹ, một đồng minh của Pakistan trong quan hệ với Pakistan. Quan hệ Â’n – Mỹ nồng ấm lên qua hai cuộc gặp thượng đỉnh chỉ cách nhau sáu tháng trong năm nay. Quan hệ Â’n – Trung đã được cải thiện với những cơ sở cho các cam kết chính trị cấp cao. Tuy nhiên, quan hệ Â’n Độ – Pakistan vẫn không hề được cải thiện sau một thời gian dài qua rất nhiều cố gắng. Với Â’n Độ, Pakistan luôn là một mối đe doạ cho an ninh, đặc biệt trong vấn đề Kashmir, các hoạt động Hồi giáo cực đoan và khủng bố qua biên giới. Â’n Độ vẫn tìm được ở Nga đồng minh trong vấn đề an ninh, tăng cường vai trò trong khu vực và trên thế giới.

Chuyến thăm Â’n Độ của Tổng thống Nga Boris Yeltsin cách đây bảy năm vào tháng 1/ 1993 trong lộ trình thăm cả Trung Quốc và Hàn Quốc được xem là hành động đầu tiên điều chỉnh lại chính sách lệch về Phương Tây và xa rời các nước Phương Đông trong đó có Â’n Độ trước kia của Nga. Trước chuyến thăm Â’n Độ lần này, Tổng thống Putin tuyên bố với các nhà báo ngày 1/10/2000 rằng “Â’n Độ đóng một trong những vai trò quan trọng nhất trong chính trị thế giới. Nga và Â’n Độ bổ xung một cách tự nhiên cho nhau trong rất nhiều lĩnh vực”.

Cốt lõi của quan hệ Â’n – Nga là quan hệ quốc phòng. Nga mong muốn thiết lập quan hệ quốc phòng chặt chẽ với thị trường lớn và màu mỡ như Â’n Độ cho các tổ hợp công nghiệp – quân sự của mình, một thế mạnh Nga có thể cạnh tranh được với Phương Tây. Nga bán cho Â’n Độ các loại vũ khí hiện đại như máy bay MiG, Sukhoi-30, xe tăng T-72, T-90, v.v.. với giá trị thương mại lớn. Â’n Độ cũng muốn khôi phục lại nguồn cung cấp phụ tùng và thiết bị quân sự từ Nga, vì 60 – 70% vũ khí và thiết bị quân sự Â’n Độ mua của nước ngoài là từ Liên Xô. Hiệp định hợp tác quân sự và kỹ thuật giữa Â’n Độ và Nga phát triển theo hình thức mới là sản xuất các trang thiết bị quân sự tại Nga và Â’n Độ. Với việc chuyển giao công nghệ và hợp tác sản xuất này, quan hệ “mua – bán” đã được thay thế bằng quan hệ “tham dự và tương tác”.

Tổng thống V. V. Putin trong khi nhận biết sự phụ thuộc vào Â’n Độ để nuôi sống ngành công nghiệp quốc phòng của Nga, còn muốn làm sống lại một nước Nga cường quốc kinh tế như thời Liên Xô. Kinh tế hai nước vẫn còn sự phụ thuộc lẫn nhau. Â’n Độ không thể bỏ qua nhu cầu về phụ tùng và kỹ thuật quân sự của Nga, và Nga phải đối phó với sự thiếu hụt hàng tiêu dùng được bù đắp từ Â’n Độ. Quan hệ kinh tế song phương là yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế hai nước. Theo một báo cáo của Mỹ, hàng năm Â’n Độ nhập của Nga các sản phẩm quân sự trị giá tới 2 tỷ USD. Hơn nữa, để tăng cường xuất khẩu, Nga không muốn bị Â’n Độ thay thế bằng Washington trong đáp ứng nhu cầu quân sự và quốc phòng.

Nhìn chung , New Delhi và Moscow đã duy trì được truyền thống quan hệ đặc biệt trong vài thập kỷ qua, qua các biến động từ sự tan rã của Liên bang Xô viết tới sự thay đổi bộ máy lãnh đạo hai nước. Nga với các tiềm năng to lớn về nguồn lực, cơ sở khoa học, nhân lực, vị trí địa chính trị và lịch sử … vẫn là một quốc gia quan trọng trong lợi ích chiến lược lâu dài của Â’n Độ. Một nước Nga vững mạnh sẽ đáp ứng được mong muốn và lợi ích của Â’n Độ. Thủ tướng Â’n Độ Vajpayee tuyên bố Â’n Độ muốn thấy một nước Nga mạnh và tự tin có vị trí quan trọng trong thế giới đa cực. Còn Tổng thống Nga Putin tuyên bố “Chúng tôi rất quan tâm duy trì quan hệ với một cường quốc như Â’n Độ, đặc biệt là trong tiến trình hình thành một thế giới dân chủ đa cực và trong các lĩnh vực song phương”.

Quan hệ hợp tác gắn bó giữa hai nước được chính thức hoá qua Tuyên bố về Đối tác Chiến lược ký trong dịp này, cùng với việc ký 10 hiệp định hợp tác mới và gia hạn thêm một số hiệp định trong các lĩnh vực quân sự, khoa học kỹ thuật, kinh tế, văn hoá và chính trị…

Tuyên bố về Đối tác Chiến lược là tuyên bố đầu tiên Nga ký với các nước. Tuyên bố này được xem như là sự tiếp nối của tiến trình được bắt đầu từ Hiệp ước Hoà bình, Hữu nghị và Hợp tác 8/1971. Tuyên bố tập trung vào những lợi ích chiến lược và địa chính trị của Â’n Độ và Nga. Với quan hệ đối tác chiến lược, hai bên hướng tới những sáng kiến chung trong các vấn đề quốc tế và khu vực cũng như các vấn đề hạt nhân. Quan hệ đối tác chiến lược Â’n – Nga được bảo đảm là không nhằm thiết lập liên minh quân sự và chính trị hay chống lại bất kỳ một nước thứ ba nào. Tuy nhiên, Vai trò của các mối quan hệ Nga – Â’n Độ – Trung Quốc là rất quan trọng trong hình thái thế giới thế kỷ 21. Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc ngày 2/10/2000 nhận xét “không thể thiết lập một kiến trúc quan hệ quốc tế mới một cách tổng thể nếu không có sự tham gia của Nga, Trung Quốc và Â’n Độ”.

Ngoài việc lần đầu tiên ký Tuyên bố về Đối tác chiến lược, quyết định của Tổng thống Putin nhận lời mời thăm Islamabad trong thời điểm trước chuyến thăm New Delhi là điểm mốc thể hiện sự chuyển đổi chính sách của Nga với Nam A’.

Nội dung chủ yếu của chính sách đối ngoại của Nga là nhằm khôi phục lại một nước Nga hùng mạnh. Nga cũng thực tế trong đánh giá tình trạng hạn chế hiện nay của mình. Một nền Ngoại giao tích cực có thể bảo vệ các lợi ích của Nga mà không cần can thiệp quân sự quá lớn là trọng tâm của Nga trước thực trạng bộ máy quân sự của Nga tuy lớn nhưng thiếu nguồn lực để duy trì. Chính sách đối ngoại mới của Nga nhằm trọng tâm là tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển nhanh. Nga sẽ thực hiện chính sách cân bằng giữa lợi ích mà Nga theo đuổi và nhu cầu cấp thiết bắt kịp với Phương Tây trên các mặt trận kinh tế và xã hội.

Sáng kiến ngoại giao đầu tiên của Tổng thống Putin cử đặc phái viên đến Islamabad và thông điệp đặc biệt gửi Tướng Musharraf đã gây sốc cho một số nhà quan sát Â’n Độ về tác động khó tránh khỏi cho quan hệ Â’n – Nga mặc dù cả Nga và Â’n Độ đều không định sẽ không có gì ảnh hưởng. Chính quyền Musharraf vốn bị New Delhi tẩy chay qua các xung đột liên tiếp ở biên giới hai nước và vụ đảo chính quân sự vừa qua đã được Nga hợp pháp hoá qua hành động này. Đây cũng là những bước đầu tiên Nga tiến tới đối thoại nghiêm túc với Pakistan.

Can dự mới của Nga với Pakistan được một số nhà phân tích cho là hệ quả của sự ấm lên trong quan hệ Â’n – Mỹ. Tuy nhiên trong thế giới một cực như hiện nay và việc Nga chủ động tìm kiếm sự can thiệp của Mỹ trong hầu hết mọi vấn đề, từ phát triển kinh tế cho đến các vấn đề phòng thủ tên lửa, thì việc gắn kết Â’n – Mỹ khó có thể tạo ra một sự phản kháng nào. Vì vậy, lý do thực tế hơn cho việc Nga xích lại với Pakistan là do tình hình khu vực phía bắc Capcazơ, Afganistan do ảnh hưởng từ Pakistan và những tác động tới lợi ích của Nga ở khu vực Trung A’, Capcazơ và Chechnya, tương lai vị thế quốc tế và nền kinh tế của Nga.

Nga luôn lo lắng trước xu hướng pha trộn giữa ngoại giao kinh tế, chính trị và tôn giáo của Pakistan và sự lan tràn của phiến quân Hồi giáo ở Trung A’ có thể đe doạ khu vực đông dân theo đạo Hồi ở phía nam của Nga. Với vai trò lịch sử là một cầu nối giữa Thiên chúa giáo ở Châu Âu và Thế giới Hồi giáo, Nga có nguy cơ trở thành “bãi chiến trường” trong cuộc xung đột của các nền văn minh giữa Phương Tây và chính trị Hồi giáo, theo đánh giá của Tretyakov, một học giả Nga nổi tiếng, và ông cho rằng “chúng ta (nước Nga) phải có một chính sách hết sức khôn ngoan”. Nga không chấp nhận sự lan tràn của phong trào Hồi giáo cực đoan, song cũng không muốn gây hấn với các quốc gia đạo Hồi phía nam như Pakistan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm ngăn ngừa việc hình thành một khối đạo Hồi trong khu vực chống lại Nga hay biến mọi quốc gia Hồi giáo trở thành kẻ thù của mình. Chính sách của Nga đối với các nước này vừa linh hoạt, vừa thực tế. Nga muốn duy trì quan hệ hợp tác bình thường và phân biệt rạch ròi giữa đạo Hồi như một tôn giáo lớn và việc một số phe nhóm lợi dụng nó để tiến hành các hoạt động cực đoan và khủng bố quốc tế. Nga phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa hai lựa chọn can dự và đối đầu với các lực lượng Hồi giáo cực đoan xuất xứ từ Pakistan và Afganistan.

Việc Taliban vốn được Pakistan ủng hộ đã tiến sát biên giới Tajik – Afghan trong vài tuần qua, tạo ra nhận định trong giới học giả Â’n Độ rằng công cuộc chinh phục của Taliban đã sắp kết thúc, thậm chí có thể trước mùa đông khiến Nga nhận định cần phải quan hệ với Pakistan để ngăn chặn đường tiến của Taliban đến các quốc gia Trung A’ suy yếu và không ổn định. Nga nhận thức rõ trách nhiệm của mình với các quốc gia này song không thể làm gì hơn ngoài việc gửi một số lực lượng quân sự tới đó. Trước tình hình Mỹ không sẵn sàng can dự, Trung Quốc đã có những quan hệ riêng với Taliban, và hoạt động quân sự tốn kém của Nga tại Chechnya không làm ổn định đáng kể tình hình, thì việc quan hệ với Pakistan như một lựa chọn nghiêm túc để đối phó với những thách thức mới là không thể tránh khỏi với Nga. Trong bối cảnh Pakistan từ lâu đã muốn phát triển quan hệ ngoại giao với Nga, thì sự xích lại của Nga và Pakistan hiện nay là kết quả của các tính toán đó.

Rõ ràng, Nga muốn đánh đổi đề nghị tăng cường quan hệ với Pakistan lấy sự hợp tác của nước này trong việc kiểm soát các hoạt động khủng bố Hồi giáo cực đoan, trước hết là ở Chechnia. Â’n Độ lo lắng rằng thủ đoạn “tống tiền” của Pakistan đã bắt đầu có hiệu quả với Nga, và Pakistan sẽ dùng lời hứa ngăn chặn hoạt động của các nhóm cực đoan để đoạt được những nhượng bộ chính trị của Nga không có lợi cho Â’n Độ trong các vấn đề giữa Â’n Độ – Pakistan. Â’n Độ sẽ theo dõi chặt cuộc mà cả đã bắt đầu giữa Moscow và Islamabad.

Như vậy, chính sách của Nga với Â’n Độ nói riêng và với khu vực Nam A’ nói chung, tùy từng thời kỳ, đều nằm trong tính toán những lợi ích song trùng, và trên cơ sở lợi ích chiến lược của Nga xuất phát từ tình hình cụ thể. Trong khi tìm kiếm đồng minh mới, cả Â’n Độ và Nga đều nhận ra rằng hai nước chưa từng có hoặc khó có thể có một đối tác nào tin cậy hơn. Tuy nhiên, các biến động xã hội của Nga và Â’n Độ đang diễn ra nhanh chóng và cách nhìn nhận thế giới của mỗi nước theo đó cũng thay đổi. Chính sách đối ngoại của Nga ngày càng trở nên mềm dẻo, linh hoạt và thực tiễn thể hiện ở chỗ Nga ký Tuyên bố Đối tác chiến lược với Â’n Độ đồng thời xích lại và tiến tới đối thoại nghiêm túc với Pakistan. Tác động của các cặp quan hệ Â’n – Mỹ – Nga – Pakistan còn tiềm ẩn nhiều biến động mới. Những nét mới trong chính sách của Nga với Â’n Độ và Nam A’ thể hiện chân lý muôn thủa trong chính trị thế giới: “không có kẻ thù vĩnh viễn hay đồng minh vĩnh viễn mà chỉ có lợi ích dân tộc là trên hết”./.

Tài liệu tham khảo:

1. Indian Foreign Policy, U. Ghai, 1999.

2. Indian Foreign Policy, 1999.

3. Strategic Analysis, 9/1998.

4. Russian Policy towards South Asia, Strategic Analysis, 2/2000.

5. “India’s Relations with Russia and Central Asia”, International Affairs, Jan. 1995.

6. “Reorientation of Indian Foreign Policy after the Cold War”, Aussenpolitik, No. 1, 1993.

7. “Russia’s Eastern Diplomacy and India”, World Affairs, 12/1993.

8. “South Asia”, Reshaping Regional Relations, Asia-Pacific and the Former Soviet Union (Boulder: Westview Press), 1993.

9. The Hindu, 25, 29, 30/ 9 – 1,2/10/ 2000.

10. The Hindustan Times, 2/10/2000./.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

TIN TỨC CÙNG CHUYÊN MỤC

THÔNG TIN MỚI ĐƯA KHÁC