Số 22 - Nhật Bản với cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam Á

08:25 26/03/2012

Nhật Bản với cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam Á

Tác giả: Nguyễn Hồng Yến.

Một trong những sự kiện nổi bật thế giới trong năm 97 vừa qua là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở khu vực Đông Nam A'(ĐNA) và Châu A' nói chung xảy ra trong suốt nửa cuối năm 1997. Nó đã ảnh hưởng to lớn đến một loạt các lĩnh vực kinh tế, thương mại, tài chính, đầu tư, chính trị và ngoại giao trên quy mô quốc tế. Cho đến nay người ta vẫn chưa thể dự đoán một cách chính xác là cuộc khủng hoảng này sẽ còn tiếp tục đến bao giờ và hậu quả của nó sẽ còn tác hại đến chừng nào. Sự mất giá kinh khủng đồng tiền của nhiều nước trong khu vực so với đồng đo la Mỹ đã làm rối loạn các thị trường chứng khoán một cách thảm hại chưa từng có và đã buộc các nước này phải kêu gọi cứu trợ khẩn cấp từ IMF và các cường quốc thế giới.

Ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ ở ĐNA đối với Nhật Bản:

Nhật Bản, nước láng giềng thân cận của khu vực ĐNA, với kim ngạch buôn bán và đầu tư song phương ở mức độ cao, cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Cộng thêm với sự kiện sụp đổ của Yamaichi - tập đoàn chứng khoán lớn thứ tư của Nhật vào tháng 11/97 và một số các công ty tài chính khác đã làm chao đảo xứ sở mặt trời mọc khiến cho nước này phải đóng một vai trò quan trọng tích cực trong việc giúp tìm ra một giải pháp tháo gỡ khủng hoảng của Châu A' nói chung và khu vực ĐNA nói riêng.

Nhật Bản có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ và khăng khít với các nước ĐNA. Từ cuối năm 1990, sau khi nền kinh tế "bong bóng" xẹp xuống, do nhu cầu trong nước không cao, sự phục hồi của kinh tế Nhật Bản chủ yếu dựa vào xuất khẩu. ĐNA là một trong những thị trường xuất khẩu lớn của Nhật Bản, do vậy sự phá giá tiền tệ và tình trạng kinh tế đình đốn ở ĐNA đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến xuất khẩu của Nhật Bản vào khu vực. Chỉ trong vòng vài tháng, các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaisia và Philippines đã nhanh chóng nhìn thấy khả năng xấu đi trong thanh toán đối với hàng hoá nhập khẩu. Có thể lấy con số ô tô của Nhật bán ra tại Thái Lan trong tháng 9/97 làm một ví dụ : nó chỉ bằng một phần tư so với cùng kỳ năm trước. Rõ ràng nhu cầu đối với hàng hoá Nhật Bản giảm đi rõ rệt trong khu vực.

Bên cạnh đó, các công ty trong khu vực tìm mọi cách để xuất khẩu hàng hoá của mình nếu còn mong muốn thu ngoại tệ để trả các khoản nợ vay trước đây. Chính đồng tiền trong nước phá giá đã làm cho các nước này có lợi thế trong xuất khẩu. Điều này có nghĩa là lợi nhuận của các công ty xuất khẩu Nhật Bản đang càng ngày bị thu hẹp vì vấp phải cạnh tranh. Các tập đoàn lớn như Mitsubishi Heavy Industries và Hino Motors đã phải tuyên bố thu nhập của họ giảm mạnh trong 6 tháng cuối năm. Ngay tại nước Nhật, trước nguy cơ của một cuộc suy thoái kinh tế mới, vốn đầu tư cũng đang bị ứ đọng, nhu cầu tiêu dùng giảm sút, tỷ lệ phá sản gia tăng, giá nhà cửa lại leo cao và dự báo tăng trưởng kinh tế Nhật trong tài khoá 1997 chỉ còn khoảng 1%.

Hầu như các khoản đầu tư của Nhật vào ĐNA đều bị suy giảm vì tình hình biến động tiền tệ và kinh tế lại các nước này. Tháng 11/97, Toyota Motors đã phải quyết định tạm dừng hoạt động 2 nhà máy ở Thái Lan sang năm 1998. Sumitomo Electric Industries cũng đã dừng sản xuất bàn phanh tại một nhà máy ở Thái Lan và huỷ bỏ một dự án đầu tư chế tạo máy điều hoà. Từ tháng 4 đến tháng 6/97, khi mà khủng hoảng tiền tệ ĐNA còn đang ở giai đoạn manh nha thì vốn đầu tư của Nhật Bản vào Thái Lan, Malaisia, Indonesia và Philippines cũng đã giảm 29% so với năm trước(1) . Mặc dù không phải sự xuống giá của các đồng tiền ĐNA đều ảnh hưởng tiêu cực đến các công ty Nhật vì đầu tư sản xuất tại các nước này sẽ rẻ hơn trước, nhưng các nhà phân tích kinh tế lo ngại rằng tâm lý khủng hoảng đột ngột sẽ làm mất đi yếu tố có lợi đó. Sự biến động kinh tế, tái lạm phát, bất ổn xã hội còn có thể đem lại hậu quả lớn hơn nhiều. Điều này đã được chứng minh qua cuộc khủng hoảng ở Mehico cuối năm 1994 trước đây.

Nhật Bản từ trước đến nay vốn vẫn là nhà đầu tư quốc tế quan trọng nhất. Song do một loạt các vụ phá sản, các công ty Nhật Bản không còn muốn và không thể đầu tư vào ĐNA bởi vì các ngân hàng Nhật Bản không chịu phê duyệt chừng nào họ còn chưa giải quyết được các khoản nợ quá hạn của các nước ĐNA. Trong thời kỳ rực rỡ những năm 80, các ngân hàng Nhật Bản đầu tư ồ ạt ra nước ngoài mà không cần quan tâm đến quy mô dự án. Còn bây giờ thì hàng loạt các công ty ĐNA và Nhật bản phá sản trong cuộc khủng hoảng cũng buộc các ngân hàng Nhật phải chấp nhận mất đi hàng tỉ đô la.

Cuộc biến động tài chính của khu vực đã đẩy các ngân hàng Nhật Bản vào tình trạng khó khăn. Khoảng một phần ba tổng số tiền cho vay ra nước ngoài của Nhật là vào khu vực Đông A' và ĐNA, và trong số này một nửa liên quan đến các dự án bất động sản. Cũng cần phải nói thêm là trong suốt hơn hai thập kỷ qua, các nước ĐNA đã nhận vay nợ bằng đồng Yên với số lượng rất lớn trị giá hàng chục tỷ đô la để phục vụ cho nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng. Đến khi các đồng tiền trong nước tụt giá so với đồng Yên, các nước này lại phải thêm gánh nặng trả nợ nhiều hơn. Trong khi các tính toán còn đang rất khác nhau, thì theo một số nhà dự báo chiến lược, có lẽ phải đến 10% hay 12% số tiền vay này là không có khả năng trả. Cộng lại một loạt các vấn đề như xuất khẩu kém lời, tăng nợ khó thu hồi, thuế suất cao, tăng trưởng suy giảm và tâm lý rơi vào một giai đoạn trì trệ mới đã đưa Nhật Bản đến chỗ phải chịu nhiều sức ép hơn. Đối với nội các của thủ tướng Hashimoto vốn đã và đang gặp rất nhiều khó khăn trong tiến trình cải cách kinh tế trong nước thì đây quả là một bài toán hóc búa khó tìm ra lời giải và cũng là dịp để các đảng đối thủ công kích.

Tình hình như vậy đã buộc chính phủ Nhật Bản phải đưa ra một kế hoạch cải tổ nhằm đưa nước Nhật thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng ở Châu A' nói chung và bản thân Nhật Bản nói riêng. Có như vậy mới có thể nói đến chuyện trợ giúp các nước châu A' khác. Kế hoạch này gồm nhiều biện pháp quan trọng như cắt giảm thuế đánh vào các thương vụ, trị giá 6,5 tỉ đô la và cắt giảm 15 tỷ đô la thuế lợi tức. Mục đích của nó là để kích thích tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất gia tăng. Còn để cứu vãn hệ thống ngân hàng, chính phủ thông báo sẽ chi một khoản tiền khổng lồ là 30 nghìn tỉ Yên (tương đương với khoảng 230 tỉ đô la). Trong số tiền này, 17 nghìn tỉ sẽ được dùng để bảo đảm lòng tin của người ký thác (depositors), và chỉ có 13 nghìn tỷ được dùng để hỗ trợ cho các ngân hàng. Song con số 13 nghìn tỉ này vẫn chưa đủ nâng đỡ tất cả các ngân hàng, bởi vì số thua lỗ của các ngân hàng Nhật Bản hiện nay là 27 nghìn tỉ Yên, và do vậy một số NH vẫn sẽ tiếp tục phải đóng cửa. Ngoài ra chính phủ còn thực hiện chương trình cắt giảm thâm thủng ngân sách chiếm từ 7% GDP xuống còn 3% trước năm 2003 và sử dụng các nguồn vốn công cộng với mục đích làm trong sạch và cải tổ hệ thống ngân hàng. Cụ thể là trong tài khoá 98 này, chính phủ đã phê duyệt ngân sách cắt giảm chi phí chung còn khoảng 343 tỉ đô la (giảm 1,3%) so với tài khoá trước và giảm chi phí quốc phòng 0,2% so với năm 97.

Nhật Bản trong việc giúp đỡ các nước ĐNA giải quyết khủng hoảng:

Vai trò tích cực và rõ rệt nhất của Nhật Bản đối với cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu A' là tham gia vận động IMF cho vay khẩn cấp và đóng góp vào quỹ này để giúp các nước gặp khủng hoảng lấy lại thăng bằng cho các đồng nội tệ như Thái Lan, Indonesia... Bản thân chính phủ Nhật Bản cũng đã cam kết và thực hiện cho các nước này vay ưu đãi với tổng giá trị hàng trăm tỷ Yên.

Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản đang tìm cách thúc đẩy việc cho ra đời một Quỹ Tiền tệ Châu A' để giải quyết các cuộc khủng hoảng tiền tệ của khu vực. Một tổ chức tài chính như vậy có thể sẽ là đòn bẩy để Tokyo tăng cường vai trò lãnh đạo trong khu vực mà từ trước đến nay họ vẫn chưa đạt được. Điều này còn thể hiện vai trò độc lập của Nhật Bản đối với Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề của khu vực. Các nước ĐNA đang gặp khủng hoảng cũng coi đây là một liều thuốc cần thiết và rất ủng hộ Nhật Bản trước sáng kiến này. Tuy nhiên đề nghị này của Nhật Bản khó có thể thực hiện được bởi vấp phải sự phản đối của Mỹ với lí do một Quĩ tiền tệ mới của Châu A' sẽ chồng chéo chức năng với Quĩ tiền tệ thế giới đang tồn tại hiện nay. Trong khi Mỹ cho đến nay vẫn luôn là người muốn gây ảnh hưởng đối với các nước đang phát triển thì Mỹ khó chấp nhận để cho Nhật làm việc như vậy.

Các nhà kinh tế Nhật Bản cũng đã đưa ra ý kiến cho các nước ĐNA trong việc xây dựng một chính sách tiền tệ ổn định. Hai bài học có thể rút ra từ cuộc khủng hoảng của các đồng tiền khu vực. Thứ nhất là, các nước ĐNA không thể nôn nóng muốn sớm làm tăng giá trị của đồng tiền nước mình trong khi lại muốn theo đuổi một chính sách tăng cường cạnh tranh trong xuất khẩu. Điều này sớm muộn sẽ gây ra thảm hoạ vì bản thân nền kinh tế ĐNA mới chỉ đang phát triển và chưa đủ mạnh, hay nói đúng hơn là chưa đủ nội lực, để tự duy trì giá trị đồng tiền quốc gia ở mức cao. Bài học thứ hai, và cũng là quan trọng hơn, là: chiến lược muốn có ngay một thị trường vốn tự do hoàn toàn tại các nước này cần phải được xem xét lại nghiêm túc.

Trong rổ tiền tệ của mình , các nước châu A' chủ yếu dựa vào giá trị đồng đô la Mỹ. Nó chiếm đến 80% rổ tiền tệ của Thái Lan và 90% rổ tiền tệ của Philipines. Điều này đã giúp cho các nước ĐNA đạt được năng lực cạnh tranh xuất khẩu khi mà đồng đô la Mỹ liên tục lên giá. Nhưng đồng tiền của nước chủ nợ lớn nhất, nhà đầu tư lớn nhất và cũng là quốc gia cạnh tranh lớn nhất của các nước này là Nhật Bản, lại chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, bằng 10% trong rổ tiền tệ của Thái Lan. Nhìn lại khoảng thời gian từ giữa năm 1995, đồng Yên Nhật liên tục xuống giá so với đô la Mỹ và các ngoại tệ mạnh khác. Điều này có nghĩa là các nước ĐNA bị suy giảm cạnh tranh với Nhật Bản. Còn bây giờ khi mà khủng hoảng nổ ra, các đồng tiền ĐNA lại xuống giá nhanh hơn so với đồng Yên thì kết quả là các nước này lại rơi vào gánh nặng nợ nần vì các khoản vay trước đây bằng đồng Yên trở nên lớn hơn. Các đồng tiền khu vực phá giá làm cho hàng hoá nhập khẩu vào các nước này đắt hơn trước và quan trọng hơn là gây ra tái lạm phát ở mức độ cao, một điều vô cùng nguy hiểm cho sự duy trì, phát triển và ổn định xã hội. Malaysia đã phải cắt giảm chi tiêu hàng nhập khẩu cho một loạt dự án xây dựng lớn. Và điều này lại cắt sâu thêm vào khủng hoảng kinh tế. Không sai khi nói đồng tiền xuống giá làm cho hàng xuất khẩu rẻ hơn và có tính cạnh tranh hơn, nhưng không phải lúc nào nó cũng xảy ra ngay và xảy ra theo chiều hướng có lợi, nhất là đối với sự phá giá quá đột ngột như hiện nay. Một tỷ lệ lớn hàng xuất khẩu của Thái Lan, Malaysia và các nước ĐNA khác có thành phần từ các nguyên liệu hoặc linh kiện nhập khẩu. Như vậy, giá các nguyên liệu và linh kiện nhập đắt lên lại làm mất đi cái lợi trong xuất khẩu.

Các nhà kinh tế và tư vấn Nhật Bản đưa ra gợi ý là các quốc gia ĐNA nên tăng thêm tỷ lệ đồng Yên trong rổ tiền tệ của mình. Tomomitsu Oba, Giám đốc Trung tâm Tài chính Quốc tế Nhật Bản (JCIF) và cũng là cố vấn cao cấp của Thủ tướng Hashimoto đã đề nghị các nước này dùng đồng Yên nhiều hơn nữa trong các giao dịch thương mại, đầu tư và dự trữ ngoại tệ. Để hỗ trợ thêm cho chính sách khuyến khích này, Cục Thuế của Bộ Tài chính Nhật Bản phải sửa đổi lại luật thuế để thúc đẩy quá trình quốc tế hoá đồng Yên. Một trong những điểm quan trọng là huỷ bỏ thuế đối với tiền lãi đầu tư vào trái phiếu do Chính phủ Nhật Bản phát hành, bởi vì nó cản trở các ngân hàng trung ương trong khu vực tham gia vào việc mua trái phiếu. Đối với Nhật Bản, việc khuyến khích nói trên đối với các nước ĐNA không nằm ngoài chiến lược nâng cao vị trí và vai trò của đồng Yên trên thị trường thế giới, từ đó tăng cường địa vị ngoại giao và ảnh hưởng chính trị của mình. Còn đối với các nước trong khu vực, đây vẫn là một giải pháp phải mất nhiều thời gian cân nhắc vì nó còn có các ảnh hưởng phức tạp khác.

Sự thờ ơ của Mỹ, ảnh hưởng của việc đồng Yên Nhật xuống giá so với đồng đô la Mỹ. Và vai trò tích cực của Nhật Bản.

Có lẽ hiếm khi người ta thấy Mỹ ít tỏ thái độ hoặc không đưa ra hành động gì khi một vấn đề quốc tế đang ảnh hưởng đến lợi ích của chính mình như hiện nay. Phản ứng thờ ơ của Wasington đối với cuộc khủng hoảng tiền tệ ở ĐNA đã kéo theo sự nghi ngờ của các đồng minh khu vực. Mỹ không hề có cứu trợ tài chính theo kiểu ở Mêhicô trước đây, cũng không hề có một cam kết hỗ trợ nào đáng kể ngoại trừ những đóng góp thông qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF. Chính quyền Clinton đã từ chối tham gia vào khoản cứu trợ 17,2 tỷ đô la cho Thái Lan hồi tháng 8/1997, và chỉ đồng ý viện trợ cho Indonesia 3 tỷ đô la nếu như IMF cảm thấy khó khăn trong việc thực hiện khoản tài trợ 23 tỷ đô la cho nước này. Châu A' - Thái Bình Dương là bạn hàng thương mại lớn của Hoa Kỳ và nhiều chính trị gia cảnh báo rằng Hoa Kỳ không nên quên trách nhiệm giúp đỡ của họ đối với cuộc khủng hoảng, trong khi tình hình cho thấy khu vực đang rất cần đến vai trò tích cực của Oasinhtơn để tìm ra một lối thoát. Sự phản ứng như vậy có thể chưa ảnh hưởng mạnh đến thương mại và đầu tư của Mỹ ở khu vực trong thời gian trước mắt, nhưng xét trên phương diện lâu dài thì chính sách không can thiệp này của Mỹ làm suy giảm uy thế chính trị của Nhà trắng ở khu vực, nhất là đối với các quan hệ an ninh.

Hồi tháng 10/1997 vừa qua đã có một cuộc họp quan trọng diễn ra giữa Thứ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ Lawrence Summers và các Đại sứ Châu A' xoay quanh chủ đề cuộc khủng hoảng. Phía Mỹ chưa đưa ra một chủ trương cụ thể nào mặc dù họ thừa nhận kinh tế Mỹ cũng đang phải gánh chịu những tác động nhất định. Summers chỉ nhấn mạnh rằng IMF đã thực hiện vai trò của mình một cách xuất sắc đối với sự phồn vinh và thành công của các nước trong khu vực. Hoa Kỳ cũng nhắc đến đề nghị của Nhật Bản là thành lập một Quĩ Tiền tệ Châu A', nhưng với quan điểm là việc thành lập này có thể chỉ làm mất đi uy tín và đóng góp của IMF. Còn về vai trò của mình trong cuộc khủng hoảng, Hoa Kỳ nêu lên rằng họ luôn luôn cam kết hỗ trợ phát triển nền kinh tế của các nước ĐNA, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh thêm là bản thân các nước này phải tự xây dựng cho mình một thể chế phù hợp và chính sách của Mỹ sẽ không thay đổi.

Nhìn chung, các nước ĐNA tỏ ra thất vọng và không hài lòng về mức độ giúp đỡ của Mỹ đối với họ để vượt ra khỏi khủng hoảng. Còn nhìn từ quan điểm của các nước phương Tây, đó lại được coi là công bằng. Các nhà kinh tế học chỉ ra rằng công cuộc cải tổ của các nước ĐNA với sự giúp đỡ của IMF cũng chỉ thực sự là lớn lao và có ý nghĩa nếu như các nước này lấy lại được lòng tin trên thị trường tài chính thế giới.

Sự thờ ơ của Mỹ có thể được xem xét bắt đầu từ vấn đề đấu tranh nội bộ trong bản thân nước Mỹ hiện nay, giữa một bên là Tổng thống với một bên là Quốc hội và ngay trong Quốc hội về cách thức giải quyết cuộc khủng hoảng. Do vậy, vai trò chèo lái của Wasington chỉ là giới hạn. Có thể thấy một quyết định được thông qua tại Nghị viện Mỹ sau khoản cứu trợ khẩn cấp 50 tỷ đô la cho Chính phủ Mêhicô hồi năm 1995 đã hạn chế Wasington đối với mọi cam kết trị giá trên 1 tỷ đô la nếu như không được Quốc hội phê chuẩn, trừ khi nội các của Tổng thống Clintơn chứng minh được rằng cam kết về cơ bản là quan trọng đối với lợi ích của nước Mỹ. Quyết định này làm cắt giảm các chương trình viện trợ nước ngoài mà đã từng xây dựng nên ảnh hưởng to lớn về tài chính của Mỹ trong khu vực. Đấy là còn chưa nhắc đến chuyện các chương trình như vậy còn hay gắn với các vấn đề nhân quyền, giống như trường hợp viện trợ quốc phòng ở Indonesia. Trở lại với cuộc khủng hoảng ở ĐNA, để có được sự phê chuẩn của Quốc hội Mỹ đối với các khoản cứu trợ là khó khăn hơn nhiều bởi vì việc chứng minh một nước láng giềng như Mêhicô thì dễ hơn là ĐNA. Mêhicô có mối quan hệ ràng buộc với Mỹ . Mêhicô chiếm một vị trí quan trọng đối với nền an ninh và quốc phòng Mỹ hay có thể gọi đó là "sân sau" của Mỹ. Mặt khác, Mêhicô là một trong những con nợ lớn nhất của Mỹ và hậu quả sẽ là to lớn đối với Mỹ nếu con nợ này tuyên bố vỡ nợ. Về kinh tế, Mỹ không còn phải lo ngại gì về vấn đề tự do hoá vì Mêhicô là thành viên của NAFTA. Còn lợi ích của Mỹ ở ĐNA còn phụ thuộc vào việc các nước này có đi theo luật chơi của Mỹ không, hay còn bị ràng buộc bởi các siêu cường đã và đang nổi lên ở khu vực Châu A' - Thái Bình Dương.

Mặt khác, vấn đề về mô hình phát triển của các nước châu A' cũng cần phải xem xét lại trong khi "nền kinh tế Mỹ vẫn tỏ ra ngày càng hữu hiệu với dấu hiệu tăng trưởng tiếp tục kéo dài (tuy có bị chậm bớt trong năm 1998 khi Mỹ bắt đầu chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở châu A'"). Liệu đây đã phải là thời điểm thuận lợi cũng như thời cơ để Mỹ ép các quốc gia châu A' cải cách nền kinh tế theo hướng tự do hoá của Mỹ? Mỹ sẽ phải cân nhắc trước khi quyết định mức độ trợ giúp các nước này.

Ngược lại với những khó khăn và sự thờ ơ của Mỹ, trong lúc này Nhật Bản lại đang thể hiện một vai trò tích cực hơn. Nhật Bản là nước hàng đầu trong nhóm các quốc gia tham gia tài trợ khoản tiền 17,2 tỷ đô la cho vay dự phòng đối với Thái Lan hồi tháng 8/1997. Cuối tháng 9/97, Nhật lại cho Thái Lan một khoản vay ưu đãi 105,9 tỷ Yên (tương đương 900 triệu đô la). Đây là khoản cho vay lớn thứ hai trong lịch sử vốn vay của Nhật dành cho Thái Lan. Khoản vay này không dính líu gì đến IMF, mà hơn thế nữa, các khoản cho vay của Nhật Bản cũng không gắn kèm với các điều kiện cải cách khắt khe như các khoản cho vay của IMF.

Cam kết tài chính và ngoại giao khéo léo của Nhật Bản dường như giúp cho nước này đạt được các mục đích và chính sách trong khu vực tuy vẫn là hạn chế. Các quan chức ngoại giao ĐNA nói họ đã đi đến những thoả thuận tích cực và quan trọng với Thủ tướng Nhật Bản Hashimoto, và đánh giá cao sự quan tâm giúp đỡ của Tokyo. Cho đến nay, Nhật Bản vẫn là nước đóng góp lớn nhất về mặt tài chính đối với các nước gặp khủng hoảng trong khu vực, đã cam kết đóng góp 19 tỷ USD để giúp đỡ các nước này (trong đó 4 tỷ cho Thái Lan, 5 tỷ cho Indonesia và 10 tỷ cho Hàn Quốc). Rõ ràng sự thiếu nhiệt tình của Mỹ trong vấn đề đối thoại với ĐNA và châu A' nói chung chỉ làm cho Nhật Bản và khu vực này xích lại gần nhau hơn trong mối quan hệ gắn bó.

Tình hình xuống giá của đồng Yên Nhật Bản, bạn hàng lớn thứ hai của Hoa Kỳ, còn làm cho Oasinhtơn nhận thấy sự xấu đi trong cán cân thương mại vì giá trị hàng hoá Mỹ trở nên đắt hơn trên thị trường Nhật Bản và khu vực. Các nhà sản xuất của Mỹ thấy rõ sức ép cạnh tranh đang đè nặng. Bất cứ một sự cắt giảm giá cả hay trượt thêm của đồng Yên đều làm cho các công ty Mỹ thêm khó khăn và đau đầu, mà rõ ràng nhất là ba nhà chế tạo ô tô khổng lồ của Mỹ. Kết quả là vấn đề này sẽ lại làm căng thẳng thêm về mặt chính trị cho chính quyền Clinton. Hiện nay, xuất khẩu của Mỹ đang đóng một vai trò lớn trong việc duy trì mức tăng trưởng mới đạt được vài năm gần đây trên đất Mỹ. Các nhà kinh doanh Hoa Kỳ phàn nàn rằng nếu Oasinhtơn không đưa ra một giải pháp hoặc có sự giúp đỡ nào cho cuộc khủng hoảng ĐNA thì họ còn gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh. Cuối cùng, nước Mỹ cũng sẽ phải chịu thiệt thòi.

Tóm lại, mặc dù cuộc biến động ở khu vực ĐNA và của bản thân Nhật Bản cũng gây ra nhiều khó khăn cho Tokyo, song việc Nhật Bản tích cực trong việc giúp đỡ các nước ĐNA đã phần nào làm giảm sự thiếu tin tưởng của các nước này vào vai trò và địa vị chính trị của Nhật và cũng phần nào làm giảm uy tín của Mỹ trong khu vực.

Như vậy có thể đi đến một nhận xét là trong cơn bão táp của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở ĐNA, Nhật Bản đã đóng một vai trò tích cực hơn trong số các cường quốc có nhiều ảnh hưởng đến khu vực Châu A' - Thái Bình Dương. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì châu A' - Thái Bình Dương và ĐNA nói riêng là bạn hàng buôn bán và là nơi đầu tư lớn của Nhật Bản. Bất kỳ sự biến động lớn nào của khu vực này đều ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến lợi ích kinh tế của Nhật Bản. Hơn thế nữa, mọi nỗ lực về vai trò kinh tế đều là đòn bẩy nâng cao vai trò chính trị còn yếu của Nhật Bản ở khu vực. Nhật Bản cũng qua đó muốn lấy lại lòng tin từ các quốc gia ĐNA về một hình ảnh nước Nhật với tư cách là một siêu cường kinh tế đang muốn vươn tầm ảnh hưởng cả về mặt chính trị.

Cũng phải nhận thấy rằng sự giúp đỡ của Nhật Bản đối với các nước ĐNA là lớn so với những khó khăn cả về kinh tế lẫn chính trị của nội bộ nước Nhật trong giai đoạn hiện nay, song nó vẫn chưa thực sự tương xứng với vị trí cường quốc kinh tế thứ hai của mình và cũng chưa thực sự đủ sức thuyết phục các nước ĐNA về một vai trò lãnh đạo của Nhật Bản ở khu vực như họ hằng mong đợi./.

Cùng chuyên mục